Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

Truyện ngắn HÒA VĂN: 24/12




HÒA VĂN

Sáng 22 tháng 12
Bây giờ mấy giờ rồi nhỉ?. Vừa tự hỏi vừa len lén giở chiếc chăn bông ra khỏi mặt, nhìn qua tấm kính cửa sổ, bên ngoài trời sáng trưng. Độ này chắc hơn tám giờ rồi chứ không ít.
Khang Di tự hỏi và trả lời trong bụng như thế. Cả đêm hôm qua cô bé trằn trọc mãi và không rõ đã chợp mắt ngủ từ bao giờ...
Gần đến Noel thời tiết hồi nào cũng vậy. Mưa lất phất và đặc biệt lạnh. Đúng như bài Thánh ca mà Khang Di nghe hồi còn nhỏ xíu, bây giờ đã hai mươi tuổi rồi. Thật là thời gian qua đi nhanh như mũi tên...
“Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...”.
Bài ca nầy mà Dương Phương mà hát thì tuyệt!. À mà quên đã tự hứa không nhắc đến anh chàng tên Phương ấy nữa!. Khang Di lại tự trách mình như vậy khi trong đầu cô bé đang lần lượt hiện ra cơ man hình ảnh anh chàng “đáng ghét” ấy.
Người ta thường nói “Ghét của nào được của ấy” trong trường hợp Khang Di lúc nầy là chí lý chứ không chỉ đúng không thôi đâu?.
Khang Di lắc lắc đầu khi soi gương chải tóc. Kiểu tóc búp bê ôm khuôn mặt bầu bĩnh non tơ như thế ai mà không để ý được. Với lại Khang Di một cây bút truyện ngắn đang lên đồng thời học giỏi nữa chứ!. Nếu ai đó bây giờ đứng đàng sau cô bé mà ngắm nhìn bộ dạng, khuôn mặt mái tóc, đôi mắt của cô in rõ mồn một trên tấm gương cô đang soi sẽ không thể nào “ghét em” được cho mà coi!. Thế mà hiện giờ cả hai một chàng và một nàng mang tên Dương Phương và Khang Di đang “ghét” nhau!.
Khang Di ngồi vào bàn trang điểm nhưng không làm gì cả. Phải chi ngày hôm ấy hai người không “cãi cọ” nhau thì chắc Khang Di chọn màu son hồng nhạt – màu son Dương Phương thích nhất – Và chính Khang Di cũng rất thích bởi nó chỉ được đánh phơn phớt cho tôn hơn lên thôi chứ đôi môi bình thường đã mọng màu son rồi!.
Đàng nầy...
Chiều hôm qua khi nhỏ Trân Anh đến nhà bảo:
“Thôi chuyện nhỏ như con thỏ mà!. Hai “ông - bà” làm lành lại đi để nhóm bạn “tứ quý” của bọn mình đủ đôi bốn cặp!. Noel sắp tới rồi...”.
Nói thiệt trong lòng của Khang Di nguôi dần sự hờn dỗi nhưng Khang Di lại nói:
“Ông” Phương phái Trân Anh đi “sứ” à!.”
“Mô có!”.
Trân Anh vừa nói vừa lắc đầu và giơ ngón tay trỏ lên ý nói “xin thề”.
Bên ngoài trời bắt đầu mưa lâm thâm kèm theo từng luồng gió bấc. Mưa gió gây nên cái lạnh nói theo kiểu bà ngoại hay nói “Lạnh thấu xương!”. Khang Di mặc thêm chiếc áo ấm màu sánh sen – cũng lại là màu “ông” Dương Phương “thích”!
Và chính anh chàng mua từ phố cổ Hội An nhân chuyến kiến tập. Dương Phương học hơn Khang Di hai năm cùng trường Sư phạm. Hồi còn học chung bậc phổ thông trung học đã quen nhau sơ sơ. Bây giờ có gần gũi hơn chút nhưng gì thì gì cả hai hẹn khi Khang Di ra trường hãy tính...!.
Phố Hàn mưa lạnh. Những chiếc áo khoác đủ màu được các cô nữ sinh, sinh viên “khoe” khiến thành phố vốn lịch lãm, mặn mà thường ngày thêm mặn mà – lịch lãm bội lần!.
Khang Di đang ở tâm trạng chờ một mẫu tin nhắn hay một cuộc gọi từ anh chàng “đáng ghét” ấy thế mà chiếc điện thoại trở nên vô dụng và vô duyên thật, nó nằm im trên bàn.
Khang Di đi loanh quanh trong phòng. Ba đi làm chắc gần về, mẹ cũng vậy. Út Nhân đi học trung học phổ thông chắc sắp về... 
Phải chi ngày hôm qua “Ừ” cái rẹt để nhỏ “đại sứ” Trân Anh đi về bắn tin cho anh chàng biết “Khang Di hết giận rồi!” thì hay biết mấy!. Khang Di ngẫm nghĩ...
Chủ nhật rồi Dương Phương hẹn Khang Di và các bạn trong nhóm “tứ quý” đi Tam Kỳ thăm dì của Khang Di đang nằm viện. Dương Phương lại bỏ đi về quê vì một việc gì đó. Mà sau đó theo Dương Phương tại ông cậu điện và nhờ chở đi về quê gấp nên không kịp báo cho Khang Di và các bạn biết. Như vậy cả hai việc đều quan trong cả. Một bên là thăm dì, một bên bận đi chở cậu. Nhưng Khang Di cứ nằn nặt bảo: “Chắc chi...” Cô bé giận quá đã nói lỡ lời “Bất cần!” Dương Phương và Dương Phương cũng thiếu kiềm chế nói lại “Thế thì thôi!”. Và cả hai chia tay hồi thứ Hai đến giờ.
* * *
Tối 23 tháng 12
“Con à! Noel đến rồi sao con lại quấn chăn ở trong phòng một mình vậy?”
Khang Di nghe rõ lời ông già Noel nói.
“Ngoài phố giờ vui lắm con ạ!. Các cây cầu bắc qua sông Hàn đang rực rỡ sắc màu. Con đường xung quanh sông Hàn rất đông người đi Nô en. Còn ở các nhà thờ không khí thật ấm áp và thắm “Tình yêu thương” con ạ!. Ông biết con đang có điều gì không vui trong lòng phải không?. Trông kiểu con nằm bó gối, khuôn mặt buồn rười rượi như thế nầy ông đoán thế. Ngồi dậy con. Ngồi dậy trò chuyện cùng ông một chút thôi. Tối nay ông còn đi thăm tặng quà các bạn nhỏ nữa mà... Ông giải thích lễ chính thức cử hành vào ngày mai 25/12 (Lễ chính ngày) còn tối nay 24/12 gọi là lễ vọng. Trước lễ Noel 4 tuần là Mùa Vọng và sau 25/12 là 12 ngày Mùa Noel (Mùa Giáng Sinh).
Khang Di ngồi dậy. Mà đúng thật khung cảnh Noel phố xá thật đông vui quá!. Những cây thông Noel được trang hoàng chu đáo hơn mọi năm. Ở nhà thờ càng rộn ràng hơn. Cô đứng lặng người nhìn hang Bêlem, nơi đấng hài nhi sinh ra đời trong máng lừa. Khang Di thầm nhủ “Cuộc đời của mình có gì là khó khăn gian khổ đâu?. Lúc nhỏ và bây giờ cũng vậy ba me, ông bà mọi người đều dành cho mình mọi sự chăm lo ân cần. Đời sống còn nhiều thiếu thốn... mà ai không vậy...”.
Bất chợt Khang Di lạnh toát mồ hôi. Dương Phương mới đứng với Khang Di mà giờ biến mất rồi... Anh chàng lạc vào giữa đám đông người kia rồi... Cô bật khóc.
Ông già Nô En vỗ vỗ vai Khang Di:
“Con nín. Ông sẽ gọi, sẽ biểu anh chàng gì gì ấy... À! Dương Phương của con quay trở lại. Ông biết trong lòng của anh ấy vô cùng bối rối khi phải bước những bước chân xa... xa... con!”.
Trong nháy mắt sau khi Khang Di thôi khóc và khẻ “Dạ. Dạ! Con xin ông...” Dương Phương xuất hiện trước Khang Di.
Chẳng chút e dè ngượng ngùng nào... Cô bé ôm chầm lấy anh chàng.
Cả hai rối rít “Cảm ơn ông già Noel!”.
Dương Phương khẻ hát bài Thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” trong niềm yêu thương ngọt ngào!.
Khang Di dụi dụi mắt tỉnh ngủ. Trời vẫn lạnh nhưng tạnh mưa. Khang Di kéo chiếc chăn bông đắp kín người tính ngủ nướng thêm chút nữa. Chuông điện thoại reo khúc nhạc vui cô biết ngay là của Dương Phương. Khang Di nghĩ bụng nhất định sẽ thử “ôm” anh chàng “đáng ghét” một lần như giấc mơ!.
24 tháng 12.
Noel đã đến!./.

 H.V

Truyện ngắn HÒA VĂN: MƠ NGỦ




HÒA VĂN
Tranh Huỳnh Lê Nhật Tấn


T hông thường con người không chết hai lần. Thế mà có người phá quy luật tự nhiên đó họ sống trở lại... Có điều người đó sẽ không được quyền kể lại bất cứ điều gì đã thấy!. Nếu ai bất tuân sẽ chết lại ngay.
Câu chuyện nầy do một người từng chết sống lại kể.
Hư thực không thể xác minh làm rõ.
Như vậy sau cái chết một phút là gì?.
Có một lần suýt đuối nước ở sông phố Hội tôi thấy mình là người đáng trách nhất. Bởi không biết nghe lời ba mẹ căn dặn “Đừng bao giờ đùa giỡn với sông nước!”.
Trước phút chết tôi thấy rất rõ hình ảnh của ba, mẹ, các em, thân bằng quyến thuộc... Thấy và vô cùng tiếc nuối những gì mà “người sắp chết” yêu quý nhất trên đời. Còn sau khi chết một phút đành chịu vì mình chưa chết mà!.
* * *
Bà Xinh lại thấy rõ mồn một cái chết sau một phút.
Điều thấy đầu tiên “chết là sướng nhất!”. Ôi thế mà trên trần gian thiên hạ ai cũng lo ngay ngáy chuyện đáng lý ra không đáng sợ!.
Nhưng cũng xin mở ngoặc - Chỉ những ai khi sống theo đúng đạo lý làm người, sống biết “mình vì mọi người”, không tham - sân - si, không... không..., không... rất nhiều cái không lắm mới thấy “chết là sướng nhất!” - Còn đa số ai từng “Cố sống vì tiền, vì quyền lợi, bất nhân bất nghĩa, vì..., vì...” sẽ “vô cùng cực” ngay sau phút đầu tiên khi chết!.
Lão Tiện loay hoay sửa soạn những chiếc vòng hoa, bụng thầm nghĩ: "Phải chi giảm bớt cái vòng hoa, đi tiền hoặc vàng... có tốt hơn không?".
Thử đếm đến giờ có trên trăm mấy cái vòng hoa đủ kích cỡ màu mè, có hoa giả hoa thiệt, có cái không biết đính thêm gì gì vào mà lấp la lấp lánh quá đẹp!. Đám tang người trong làng bà con đến thăm phúng điếu vài thẻ hương, cặp đèn cầy kèm theo phong bì nhè nhẹ là quý hóa lắm rồi. Ở lão Tiện chuyện đó như con thỏ. Biết bao nhiêu "ơn qua ngãi lại" trên ba mươi năm làm ăn ở thành phố nầy, bây giờ mới có chuyện thiên hạ phải không cho nên nhà lão Tiện đám ma như đám hát đông ơi là đông! Có người viếng vì tình làng nghĩa xóm, có người đến làm bổn phận trả ân trả nghĩa...
Phía bên ngoài đường lộ của thôn Hà Sanh nầy lần đầu tiên xe cộ và người lên kẻ xuống như trẫy hội.
Quan tài của mẹ lão Tiện quàng ở nhà mới xây xong đâu được sáu tháng thay cho ngôi nhà hơi thâm thấp ba gian nay lên ba tầng cao nghệu. Trong xóm làng ai cũng tiếc phải chi bà Xinh – mẹ lão Tiện - sống thêm năm ba năm nữa...
Đó là cách nghĩ của người láng giềng. Còn bà Xinh cách đây ba hôm sang nhà ông Hai Kỷ trong lúc vui chuyện bà nói:
" Tui có muốn thế đâu!. Thằng Tiện nó ưng nó làm!".
Ấy là bà Xinh phàn nàn vụ vợ chồng lão Tiện về chủ trương phá nhà cũ xây nhà mới cho bà Xinh đó mà!. Bà Xinh nói:
"Mình ăn ở bao lăm hơi, làm nhà to làm gì. Những đêm khuya khoắc thanh vắng bọn mèo chuột rượt đuổi nhau trên tầng một tầng hai nghe mà ớn!".
Lão Tiện lại... "vui vẻ" đón một đoàn đến phúng điếu mới bước ra từ cả chục chiếc xe con... MC đám tang cứ luôn miệng trân trọng nói những điều “tốt lành”. Hết kính thưa đoàn nầy...., ông kia... bà nọ..., lại xuống giọng thảm não “Vô cùng đa tạ” mọi người đã đến phúng điếu.... đã đến chia buồn... Cứ như có đạo diễn sau mỗi lần như vậy ban nhạc cổ và ban kèn hơi lại... đồng loạt thi nhau trổ tài.
Đúng ra Lão Tiện chỉ thuê có dàn nhạc hơi từ thành phố về phục vụ suốt ngày đêm lễ tang của mẹ nhưng bà chị thứ Ba lại ưa nhạc cổ - do các vị nhạc công người ở trong làng phục vụ. Biết tánh khí của chị Ba rồi khi đã ưng nói và làm chỉ có bà Xinh hồi còn sống mới có đủ uy lực cắt ngang được cái sở thích của chị Ba, nay bà đã ra người thiêng cổ chị Ba trở thành người có quyền lực nhất!. Bởi vậy lão Tiện tiếng anh hào giữa chốn ba quân cũng phải né, thành ra một đám ma hai dàn nhạc cùng ò e í e… và tùng tùng… Để cho người nghe bớt nhói tai hai ban nhạc hợp đồng với nhau mỗi ban chơi liên tiếp hai bài.
Giờ ban kèn hơi đang thổi bài Lòng mẹ của nhạc sĩ Y Vân “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…” . Ý nghĩa quá đi chớ!. Thế mà hồi trưa lúc chân ướt chân ráo vô không biết nghĩ sao mười hai nhạc công chào khách đi viếng bằng bài “Tình cho không biếu không…”. Ông Tư cò (trước là cây đờn cò) người trực tính lên tiếng:
“Quý ông cúp giùm cho!. Bà cụ không cho không tình bao giờ!. Ai có nghĩa có tình bả mới đáp lại đó he!.”.
Nghe phản hồi có lý anh đội trưởng người cao to khuôn mặt ngó “Trương Phi” thế mà nói năng lại khá nhỏ nhẹ:
“Dạ chúng cháu ngừng ạ!. Thế giờ bác thích gì chúng cháu chiều nấy!.”.
Nói xong không để ông Tư cò đáp lời, ban nhạc vô ngay bài hát của Trịnh Công Sơn - Cát bụi, rồi tiếp – Một cõi đi về.
Ông Tư cò gật gù… Nhìn cách ngồi phách đốc tựa lưng vào ghế dựa và lắng nghe thì biết ông đang thích cái ban nhạc nầy rồi.
Phút sau ông Tư rơm rớm nước mắt!.
Lão Tiện đi lại ngồi bên cạnh nói như an ủi:
“Thôi bác ạ! Mẹ cháu trên chín mươi đi là được với lại theo sách tử vi năm nay bà đi đúng long đúng hổ gì đó sau nầy con cháu cả nhà mình sẽ hưởng đức cao nghĩa dày của bà mà bác.”.
Ông Tư cò ừ ừ… cho qua chuyện chứ tai đâu nghe nhạc tai đâu nghe Tiện nói.
Hết bài nhạc ông Tư cò lại nói:
“Đám của bà to nhất làng nhưng bác thấy có điều gì lạ lạ… Khách của bà mẹ anh đến với cả tâm tình nhưng lại nhẹ phong bao và lễ vật, còn khách của vợ chồng con cái anh họ cầu kỳ trên cả lễ nghi…”.
Điều ông Tư cò nói hồi chiều Tiện biết rõ nhưng không phân trần làm gì, ở đời mà... Như thế nầy thì trách nhưng như ông nhà thơ Y.M. ở tỉnh bên nổi tiếng là thế mà khi nhắm mắt xuôi tay thật hiu quạnh chỉ có cô con gái loay hoay chạy tới chạy lui lo tang chay cho cha. Đến hơn một ngày sau có ông bạn văn thơ ở thành phố biết tin lặn lội đến phúng điếu thấy cảm cảnh đã lên tiếng… Sau đó cũng thấu được đến người có trách nhiệm nhưng gì gì cũng chỉ tổ chức bằng một phần ba so với đám tang mẹ lão Tiện.
Từ hôm qua đến nay tiếp khách miết đầu óc lão Tiện nặng như khối chì, tối lại mới nằm xuống chiếu trải nền gạch men dù lạnh lẽo thế mà lão Tiện ngáy khò khò ngay. Vợ lão Tiện nói nhỏ với người con trai cả:
“Từ giờ đến sáng con tự lo mọi việc để ba nghỉ chút nghe!”.
Tuyến:
“Dạ!”.
Rồi ra đứng nghiêm trang bên bàn linh của bà nội.
* * *
Bà Xinh nằm thấy nhà mình mấy hôm nay làm gì mà khách khứa đông quá!. Ai tới cũng ôm cũng xách lễ vật tỏ vẻ trân trọng, hết sức trân trọng đằng khác.
Số lúa để ở phòng kề bên phòng ngủ của bà Xinh cứ một chặp một nhiều thêm… còn tiền nữa… tiền năm chục, một trăm, tiền triệu triệu ở trong phong bao dày cộc nằm la liệt trong tủ sắt lão Tiện chở về hôm sau tết. Lúc ấy bà chẳng biết lão Tiện chở cái của ấy về làm gì để choáng một góc phòng thường là nơi vợ con và lão Tiện khi về quê hay tá túc. Nay bà rõ rồi là để cất tiền. Chắc lão Tiện rút kinh nghiệm vụ tang chay của ông... nghe nói tiền thiên hạ đi đám do để hời hợt bị “kẻ xấu” lấy cắp ráo trọi.
Tiền bạc thì rõ rồi còn thóc lúa ở đâu ra mà nhiều thế, bà Xinh chỉ gieo cấy hơn sào đất vụ mùa nào trúng phơi phong khô khan đủ đổ đầy năm, sáu bao ure. Thắc mắc nầy được ông Tư cò giải thích:
“Thì thiếm biết đó giá thóc chỉ trên năm ngàn một cân, bà con muốn đi đám tang phải bán một chục, hai chục cân thóc chứ!.”
Bà Xinh gật đầu tỏ vẻ hiểu rồi!.
* * *
Mưa.
Mưa như cơn giận từ nơi đâu đâu xa lắm trút xuống... trút xuống...
Mưa rồi gió thi nhau giành gật cái gì đó suốt cả đêm.
Trong giấc ngủ bà Xinh mơ thấy chính bà đã “được chết” một cái "chết sướng nhất" hơn hai tiếng đồng hồ. Sáng ra bà Xinh kể giấc mơ lạ kỳ ấy...
Rồi nói vui:
“Ai mà không qua "cái đò" ấy đâu?.

H.V

Truyện ngắn Hòa Văn: Hậu Quả...





HÒA VĂN


Trân đứng chết điếng người khi hay tin mẹ bị nước lũ cuốn trôi. Cách đây mấy hôm Trân về nhà kỵ cơm cha xong, ở lại thêm một bữa nữa chủ yếu la cà nơi quán xá đãi đằng mấy ông bạn thân thiết hồi còn ở quê, đến khi gần đi mới dành đâu non tiếng đồng hồ nói chuyện với bà Sáu - mẹ của Trân - những chuyện buồn vui ngày xưa khi hai mẹ con dắt díu nhau ở bến Đá, Vĩnh Điện.
Cảnh mẹ goá con mồ côi giữa thời buổi chiến tranh loạn lạc, với đôi gàu tôn, chiếc đòn gánh tre, bà Sáu chuyên đi gánh nước thuê cho một số hộ dân, sạp buôn bán tạp hóa và người bán cá trong chợ Mai. Trân lớn lên từng ngày bằng sự làm lụng vất vả như thế của mẹ, được cái Trân ngoan lắm, ngoài buổi cắp sách vở đến trường, thời gian còn lại phụ giúp mẹ nhiều việc, mười hai tuổi đã biết nấu cơm kho cá, rồi còn tự giặt giũ áo quần. Hồi ấy cơ cực mà ấm cúng, có lần khi mẹ hỏi lớn lên con làm gì? Trân sà vào lòng mẹ, tự tin trả lời: “Con học sau làm nhiều tiền để nuôi mẹ!”.
Hòa bình bà Sáu dọn về quê làm ruộng, Trân đi học thêm bốn năm nữa rồi rủ các bạn lên rừng làm nghề khai thác lâm sản. Nơi núi rừng Trân nổi lên là một tay thợ rừng có nghề, do kinh nghiệm tích luỹ được trong những năm ở bến Đá, nơi có một vựa cây với đủ loại danh mộc. Ông hai Mịch, chủ vựa người sành cây gỗ, nói với Trân: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt! nhưng không làm gì mau phát đạt bằng lấy của rừng” Độ ấy rừng được quản lý chặt chẽ mà làm giàu dễ như thế, huống hồ gì…
Chỉ cần mười năm vác rựa mang cưa hạ cây nhóm trai tráng của Trân ai cũng phất lên trông thấy, ngay tại thị trấn Kha Ly nầy Trân có hẳn một công ty mang tên Trân Lâm, cơ ngơi như rừng bạt ngàn cây lá, kinh doanh chế biến các loại gỗ quý hiếm đến thô tạp, đội ngũ công nhân hàng trăm người ngày đêm xử dụng máy móc hiện đại cưa xẻ, gia công…, số gỗ đã về tới đây đương nhiên là hợp pháp hẳn hoi. Ở dưới phố Đà Nẵng Trân có mấy Resort chuyên kinh doanh du lịch, đất đai bất động sản cái thì đứng tên vợ, cái đứng tên ba người con, nếu nói nhà Trân đại gia thành đạt nhất nhì ở phố không sai. Các con của Trân như diều gặp gió, con đầu theo nghề cha còn thêm chuyện hùn vốn xây dựng công trình thuỷ điện, con trai út lập đội đào đải vàng, con gái có đội chuyên khai thác cát sạn trên sông, trang bị đầy đủ công cụ hiện đại xe, máy, ghe thuyền, ngày càng ăn nên làm ra.
Chỉ có bà Sáu nay vẫn sống trong một ngôi nhà đơn sơ tường xây mái ngói sát sông Thu Bồn. Nhiều lần Trân đề nghị mẹ ra phố ở với các cháu hay lên ở với vợ chồng Trân, nhưng bà Sáu lắc đầu: “Mẹ quen sống như thế nầy rồi!”, với lại Trân nói thế chứ vợ có bao giờ hé răng ngỏ một lời mời bà về ở đâu? bà nói bóng nói gió “Không có gì bằng nhà mình, mình ở!”. Biết mẹ ngày tuổicàng cao sức khoẻ giảm nay mai sẽ lọm khọm vào ra một thân một mình ở quê bất tiện, đó là lúc bình thường còn khi ốm đau khó khăn hơn nhiều, nhưng tính bà Sáu, “Ưng chi làm nấy, ai nói bà nghe!” Với lại Trân lo xa thôi chứ như bà Sáu còn khoẻ chán, ở tuổi sáu mươi bốn chưa khi nào “tốn viên thuốc đau đầu” – bà Sáu nói thế - mà đúng thật mọi chuyện đồng áng như xớt bờ, cuốc góc, rải giống, rải phân bà còn làm gọn ơ, chỉ có khi nhổ dặm, cấy hay thu hoạch bà mới nhờ vả bà con xóm giềng, chuyện công cán trước thảo sau nợ sòng phẳng chu đáo nên ai cũng sẵn lòng giúp bà cấy hái hai sào ruộng, lúa gạo đủ ăn, lâu lâu con cháu gởi tiền đi chợ, chính vì vậy mà bà nghĩ: “Tội chi đi đâu, nhất là đi bỏ quê xứ ở với dâu con, nhiếu khi chúng nó la mắng con cái, nghe y như nói chính mình, chóng chầy cũng sinh chuyện”. Bà Sáu nhớ bà Di cùng xóm mà sợ, cách đây mười năm bà Di nghe lời con bán hết nhà cửa ruộng vườn theo con trai vào tận Sài Gòn, ban đầu cơm lành canh ngọt sau vì hờn giận con dâu, bà Di trở về quê ở với rể con và cháu ngoại. Theo bà Sáu mỗi người có hoàn cảnh khác nhau nhưng cái gì tránh được nên tránh. Hôm cha con Trân về, bà Sáu nói: “Mẹ nghe con, cháu giàu có mừng lắm nhưng sao thấy ngại ngại…” Trân nói: “Mẹ hay lo xa, giờ con đâu còn vô rừng đốn cây như mọi năm đâu?”. Bà Sáu nói nhỏ nhẹ: “Biết là không trực tiếp nhưng con tổ chức bao nhiêu người ngày ngày phá rừng, vợ chồng con Triện, vợ chồng thằng Kha đứa đào sông đứa đào núi… như thế còn chi!”. Chuyện huỷ hoại môi trường lâu nay được phản ánh nhiều song đâu cũng vào đấy!. Cây rừng khó có thể trồng lại cho kịp với tốc độ đốn phá kinh khủng, nhiều khu rừng trơ trọc, núi đồi không có cây cối che phủ, đất bị bào mòn, sụt lở, sông, núi biến dạng môi trường sinh thái biến đổi nghiêm trọng, tai hoạ từ thiên nhiên đem lại cho con người không lường. Cả nhà Trân quá biết mọi nguy cơ, nhưng hơi đâu mà lo miễn lách được luật pháp, làm giàu!.
* * *
Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt, trận lũ xãy ra quá bất ngờ, mọi khi ít ra cũng mưa to gió lớn ba, bốn ngày đêm rồi nước mới lớn, đàng này chiều hôm trước mây đen ùn ùn đổ về, mưa… mưa… sau đó mống Cu Đê* đóng vắt ngang sáng rực lưng chừng trời, kinh nghiệm dân gian thấy hiện tượng này phải mau “chạy về dọn gác”.Nhanh như chớp sau đêm mưa tầm tã sáng ra nước lũ đã ngập hết đồng ruộng, xóm làng, mưa to mấy không lo bằng gió chướng, nước đang lớn mà chướng còn thổi mạnh quá sợ lụt to! Nhiều người phỏng đoán…
Tối lại hầu như làng An Cư không chỗ nào không bị ngập nước, nặng nhất cánh bắc, như mấy năm ở hàng cây keo lá tràm đường liên thôn Nam – Bắc lội bộ nước trên đầu gối thì ở khu dân cư sát sông nước lũ ngập mấp mem mái hiên nhà. Ở đó nước chảy như thác, nên chạng vạng mọi người đã đi tránh lũ, tới khuya Đội phòng lũ lụt thôn kiểm tra lại chẳng thấy bà Sáu. Hỏi ông ba Nghiêng ở gần nhà, ông nói: “Khi đi theo ghe hai Tiên về đây tôi thấy bà Sáu còn đang loay hoay đóng cửa nhà, bà nói chút sẽ đi.” Cả xóm lo lắng thức trắng đêm…
Nước lũ vừa rút Trân chạy thuyền máy về, nhiều bà con đứng hai bên bờ hói dõi mắt ngong ngóng... Suốt từ mờ mờ sáng đến giờ hàng chục lượt người xử dụng thuyền máy ghe bơi thay phiên nhau tìm kiếm mà không thấy tăm hơi bà Sáu ở đâu.
Nhìn dòng nước lũ đục ngầu trôi trôi… ai nấy cũng sốt ruột. Con dâu, cháu chắt về đông đủ đứng ngồi ủ rũ, cô cháu nội lâm râm đọc kinh niệm Phật cầu xin…
Đám tang bà Sáu đông người đưa tiễn. Trân lặng lẽ bước theo sau linh cữu mẹ, những bước chân nặng như đeo chì. 
Không biết anh đang suy nghĩ điều gì khi hậu quả… ./.
H.V


  • CU ĐÊ LÀ ĐẦU NGUỒN SÔNG THỦY TÚ, Ở PHÍA TÂY BẮC QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG.


M...


HÒA VĂN

 quê làm ruộng chay, nông sản lại ế ẩm đời sống nhà nông khó khăn, thanh niên nông thôn chọn con đường tha phương khắp nơi làm ăn, phải nói với bản tính chịu thương chịu khó, đa phần có công ăn việc làm ổn định vừa đỡ đần gia đình vừa tự lo bản thân. Nhiều người ở lại thành phố lập nghiệp.

Hải Yến hỏi:

- Chị Thanh Tâm bữa nay nghỉ?

- Chị đi làm chứ nghỉ gì. Hôm nay mới thứ Sáu mà!

Tôi vừa đáp lại câu hỏi của Hải Yến vừa xếp gọn chiếc mùng. Tối qua dự sinh nhật lần thứ hai lăm của nhỏ bạn làm cùng công ty, nhà ở tận Tân Phú, về hơi khuya sáng nay dậy muộn.
Đã hơn sáu giờ rưỡi rồi.

Căn phòng trọ như ổ tò vò trời nắng nóng khỏi phải nói hai cây quạt treo tường chạy vo vo cả đêm cũng chẳng thấm béo gì.
Tiết kiệm tiền, bốn đứa thuê chung một phòng do vậy ngoài bốn chiếc xe, bốn cái tủ áo quần phần còn lại để ở có tí tẹo. May mà lấy nền gạch men làm gường ngủ, làm bàn ăn chứ không chắc chẳng có chỗ chen chân!.
Ông bà xưa nói rồi “Ăn hết nhiều chớ ở bao nhiêu!” lâu rồi thành quen. Ở nhà với ba với mẹ giường êm chăn ấm thế mà còn nhỏng nhẻo nọ kia. Có hôm ngủ nướng tận tám, chín giờ sáng mới dậy, mẹ lục đục từ sáng sớm tinh sương nấu xôi gấc, ba và các em ăn xong người đi làm người đi học, phần tôi mẹ bới vào đĩa để trong tủ ở nhà ăn. Chỉ cần vệ sinh qua quýt cho xong ăn ngay, mẹ mà nấu xôi gấc khỏi phải khen nó ngon thơm phức thật đã!. Bây giờ một thân một mình ở thành phố đông dân nhất nước nầy trăm sự tự lo liệu. Việc ăn uống cả bốn đứa chia nhau ra nấu nướng, còn áo quần phần ai nấy giặt giũ.

Hải Yến khổ người to béo - Hải Yến bảo gien nhà em là vậy – hai đứa con trai mỏng mảnh như con gái còn hai đứa con gái thời... Tuy vậy “Nhìn mặt mà bắt hình dong” với khuôn mặt hình tam giác phần trên trán rộng hơn và phần dưới nhỏ, tôi biết Hải Yến “vóc dáng đậm đà” thế nhưng trông có duyên, ở lâu biết nhỏ có nhận thức tốt, linh cảm trực giác tuyệt vời, đặc biệt rất khéo giao tiếp và hoà hợp với mọi người.. Bởi vậy nhỏ là “bà hòa giải” trong nhà trọ.

Nhớ hôm Phương và Trâm không rõ chuyện gì mà hục hặc nhau từ trong công ty về nhà tiếp tục chọi nhau như giặc nổi tưởng phải cắt tình đoạn nghĩa mỗi đứa đi một nẻo, may mà có Hải Yến tỉ tê...

Khi cả hai làm lành lại với nhau Hải Yến nói chậm rải:

- Lớn cả rồi nhe!. Lần nầy là lần cuối nhé!. Sống tha phương phải biết “Chín bỏ làm mười” chứ!

Tôi nghe Hải Yến khuyên lơn mà nhớ đến bà nội. Ở nhà bà nội cũng thường hay phân giải chuyện nên và không nên với con cháu như vậy.

Phương và Trâm rủ nhau vô đây đi bán vé số. Hôm gặp tôi ở quán cơm bụi bà Bảy, Phương và Trâm mời mua vé số.

Tôi hỏi:

- Sao cả hai cùng đi bán chung vậy?

- Dạ! em sợ lạc đường nên cùng...

Tôi à hiểu rồi... và mua hai vé. Xong mời hai nhỏ uống ly nước hỏi chuyện mới biết học xong lớp 12 thi đại học trượt, bỏ quê vào đây làm gì đó cho khuây khoả.
Tuần lễ sau tôi nhờ anh quản đốc của công ty nơi tôi làm xin cho hai nhỏ vô phụ việc ở công ty. Chỉ vậy tôi mà Phương và Trâm gọi tôi là ân nhân rồi quấn quýt với nhau gần ba năm rồi.

Hải Yến giục:

- Đã trễ rồi mà chị Thanh Tâm còn đứng thừ ra đó!

Tôi giật mình, lụi bụi chuẩn bị đi làm.

* * *

Hồi mới đến đây mở công ty các nhà đầu tư o bế công nhân dữ lắm. Họ biết tận dụng “lao động giá rẻ” để phát triển kinh doanh sản xuất các ngành hàng như may mặc, giày da,... “Sống lâu lên lão làng” “Được đàng chân lân đàng đầu” mọi chuyện vì lợi nhuận được họ làm không chút do dự. Nhiều công ty xí nghiệp xảy ra tình trạng ‘trốn tránh” hoặc “lách luật” thực hiện không đến nơi đến chốn các quyền và lợi ích của người lao động. Chỗ tôi làm được cái lương thưởng họ thực hiện chu đáo chỉ có chuyện...

Cả công ty A-T-A nóng lên vì tin lão giám đốc G.
Lâu nay tôi nghe nói sự “sàm sỡ” “quấy rối tình dục” nọ kia nhưng ở đâu chứ nơi công ty xí nghiệp sản xuất, công nhân bước tới phân xưởng chúi mặt chúi mũi vào công việc, với lại nói ra tội chứ chị em có mấy ai “trắng da dài tóc, áo quần lượt là” đâu!. Cả năm công ty phát cho hai, ba bộ áo cùng màu cùng chất liệu vải, ăn mặc đồng phục theo từng phân xưởng ai cũng như nấy chứ đẹp đẽ gì!. Cứ đến giờ tan ca công nhân trông như đàn chim vỡ tổ, màu xanh, màu đỏ, màu vàng... chen nhau ra cổng về nhà.

Sự chân chất của công nhân hiển hiện trong từng nếp ăn, ở, chuyện trò. Trâm, Phương, Hải Yến, ba nhỏ tháng nào cũng chi tiêu hết sức tằn tiện để còn tiền gởi về quê phụ ba mẹ nuôi các em tuổi ăn tuổi lớn đang cắp sách vở đi học. Đến tết nhất còn lo áo quần cho tụi nhỏ se sua cùng chúng bạn, lo quà cáp bánh trái, thịt thà cho cả nhà ăn tết...

Có bận tôi hỏi:

- Các em làm bao nhiêu gởi về bấy nhiêu như thế rồi sau nầy lấy gì...

Trâm nhanh nhẫu:

- “Nóng đâu phủi đó” chị ạ!

Phương góp thêm:

- Ba mẹ em cũng nói như chị nhưng thôi để vài ba năm sau hẵng hay!.

So với ba nhỏ điều kiện của tôi không đến nỗi nào. Nơi tôi sinh ra hiện giờ đã là thành phố rồi nhưng nói thiệt ở đó công ty xí nghiệp còn thưa thớt quá. Những năm qua nhờ “bất động sản” có giá đời sống phố xá có vẻ phong lưu còn bây giờ...
Nhiều thanh niên quê tôi thường bảo “Lập thân lập nghiệp tốt nhất” không đâu bằng đất Sài Gòn.
Có anh bạn của anh Hai tôi tốt nghiệp đại học vào đây vừa làm công ty vừa chạy ngoài nay ra riêng công ty... đang làm ăn đình đám.
Hôm anh Hai vào Tuấn (bạn của anh) có gợi ý tôi xem bên chỗ đang làm có đỡ không nếu không về giúp anh một tay phần marketing và kế toán tổng hợp.

Anh Hai tỏ ý thích tôi về chỗ Tuấn:

- Ừ! Được đấy, my giúp Thanh Tâm phát huy kiến thức quản trị kinh doanh của bao năm đại học Kinh tế... nhưng trước hết phải....

Nói xong anh Hai cười tươi. Cách nói và cười của anh Hai tôi hiểu “hai ông” đã nhỏ to điều gì “ghê lắm!” rồi...

Ý anh Hai là đến lúc tôi nên nghĩ chuyện chồng con (khi tôi đã hai mươi lăm tuổi rồi chứ non trẻ gì nữa đâu!). Từ hôm ấy đến giờ, Chủ nhật nào Tuấn cũng ghé lại nhà trọ. Tôi biết Tuấn để ý tôi lâu rồi mà chưa có dịp thổ lộ.

Trời Sài Gòn lạ thật khi nãy nắng như đổ lửa bây giờ lại mưa ầm ầm. Chủ nhật mà vậy tốt quá!. Tôi còn bao nhiêu việc cần làm... nào là cả đống đồ chưa giặt giũ, tập bản thảo hợp đồng anh quản đốc công ty nhờ xem lại chưa đọc chữ nào...
Phố mưa phủ một màu bạc mịn. Chắc mưa lớn người ta cũng ngại ra đường nên lúc nầy xe cộ và người thưa thớt trông con đường rộng hẳn ra. Phía quán cà phê gần ngã ba đông nghịt khách.
Ai như anh Tuấn đang đứng trú mưa chỗ cây dù của bà Ba bán bánh mì.

Tôi thoáng thấy và nghĩ như vậy thì từ nơi đó Tuấn vẫy tay gọi tôi. Nhanh nhẹn cầm chiếc dù bật lên che mưa, tôi băng qua đường.

Tuấn tỏ vẻ bối rối:

- Anh định...

Tôi nói:

- Anh ghé vô nhà một lát hết mưa hãy đi...

- Hay là em và anh đi uống cà phê nghe!

Tôi gật đầu.

Đôi khi tôi thích đến quán cà phê ngồi tâm sự lai rai với mấy nhỏ bạn nhưng ở đây là lần đầu.. Trời mưa quán lên đèn sớm...
Đằng sau sự nhộn nhịp sang trọng, Sài Gòn có những nơi rất đời thường!. Sài Gòn đẹp nhất về đêm ai ấy lắng mình trong một quán cà phê nào đó, nhâm nhi và ngắm cảnh phố xá không ngủ... sẽ thích!. Ấy là những quán cà phê cóc đơn sơ ven đường. Còn nơi tôi và Tuấn ngồi là quán mới mở theo moden hiện đại nghe nói tiền tỷ tỷ...!. Chủ quán phục vụ theo phong cách mới “Cà phê sạch”.(*)

Tuấn chỉ thích cà phê đen pha theo kiểu xứ Quảng, ít nước sau đó thêm ít đá lạnh hoặc để vậy uống nóng. Tôi thì kêu một ly bạc xỉu đầy tràn... kiểu Sài Gòn.

Tuấn hỏi tôi việc lùm xùm ở công ty tôi đang làm, báo chí đăng?.
Hôm đó khoảng gần 18 giờ anh quản lý công ty cho gọi “em” M. ở phân xưởng may lên gặp giám đốc G. khi M. bước vào thấy giám đốc ở trần vội quay nhanh ra cửa, nhưng lão nhanh như sóc túm lấy M. và nhụi vào tay M. một xấp giấy bạc năm trăm ngàn.

Lão nói như lệnh, miệng nồng sặc mùi rượu:

- Đồng ý thì nhận tiền và kín miệng!

M. hốt hoảng:

- Dạ! dạ! Để “em” để “em”...

Lão xốc M. vào phòng và lột phăng chiếc áo thun.

M. kể từng nghe loáng thoáng chuyện nầy nọ... nên cảnh giác. Lựa lúc lão loay hoay định dỡ trò bỉ ổi... nhanh như cắt lấy chiếc áo thun của em mà lão vừa cởi ra bỏ ra trên giường tròng ngay lên đầu lão và vùng dậy chạy thoát thân. Theo M. đã có bao nhiêu vụ việc xảy ra như thế bị ém nhẹm?.

Nghe rõ chuyện Tuấn lắc lắc đầu.

* * *

Giờ M. đang là một trong những nhân viên bán hàng giỏi tại công ty... của vợ chồng tôi./.
H.V

______________
(*): Quán “cà phê sạch” ở Sài Gòn đều rang xay và chế biến tại chỗ. Thông thường, bột cà phê nguyên chất có mùi thơm nhẹ nhàng, nước cà phê nâu nhạt, không sánh đặc, vị đắng dịu, chua thanh. Uống lần đầu có thể sẽ không cảm thấy ngon nhưng nếu uống vài lần sẽ nhận thấy rõ sự khác biệt với cà phê tạp chất. Giá ly cà phê sạch gấp đôi so với cà phê thường nhưng nghe nói như vậy cũng không lời bao nhiêu.
(Cà phê tạp chất là loại có mùi thơm rất nồng và hăng hắc của hương liệu, màu nước cà phê đen đậm, sánh đặc, nhiều bọt, bột cà phê chìm ngay khi cho vào nước ở nhiệt độ thường, vị đắng gắt.) 


TRUYỆN NGẮN NẾU CÓ SỰ TRÙNG HỢP NGOÀI XÃ HỘI LÀ NGOÀI Ý MUỐN CỦA TÁC GIẢ.

Truyện ngắn Hòa Văn: CHUYỆN TÌNH GIÀ






HÒA VĂN

Một Facebooker post lên FB bức ảnh và ghi “Cảm phục trước cặp tình già hơn 100 tuổi!”. Ảnh chụp ông cụ ân cần dùng khăn lau mặt mũi cụ bà.
Trước đó cũng trên FB tôi bàng hoàng trước một tấm ảnh chụp hai cụ già và một con chó con đang ở trên “khu đĩ” của ngôi nhà mái lợp bằng lá dừa chìm trong cơn lũ dữ, nước lũ đang mấp mé mái nhà.
Thời buổi giờ mọi chuyện đều biết cả chỉ có bên trong “cái tâm tư” của mỗi con người là mù tịt.
“Không mù tịt thì làm sao mà sống được”. Đó là lý lẽ của Sân con ông Tư Rói.
Ông Tư Rói có vợ cùng tuổi. Ông nói vậy. Còn thực sự là bao nhiêu chỉ đoan đoán thôi vì có khi ông nói bảy lăm, khi lại bảo tám mươi. Bởi giờ cả ông và bà đã lẫn thẫn. Lẫn thẫn mà hay kể chuyện xưa.
Sân mỗi lần nghe cha mình chớm kể... “Ngày xưa...” là cự ngay:
- Ông lúc nào cũng ngày xưa… với ngày nay...
Biết tính nết con nó nói vậy rồi thôi chứ không đến nỗi nào... sau khi nói xong là tuỳ ông muốn làm gì thì làm nên hồi nào cũng vậy đáp lại sự bặm trợn của Sân ông Tư Rói cất tiếng cười khà khà miệng há hốc lòi cả hai hàm răng chỉ có nướu lợi rồi nói, giọng nói lèo phèo nhát gừng nhờ nghe quen tai chứ ai lần đầu mà nghe chắc phải có người “phiên dịch”:
- Kệ… tau… mắc mớ... chi... mi!
Câu chuyện ông Tư Rói kể sau đây cả xóm nghe miết đã thuộc làu nhưng ông vẫn kể như mới lần đầu.
Trong cơn lũ Giáp Thìn năm 64 cô Xang gốc người trên vùng thượng nguồn sông Đông không biết số mệnh bự cỡ nào mà sau hai ngày đêm bu bám trên một mái nhà trôi lênh đênh cùng con nước lũ dữ dằn thế mà vẫn sống, được trai tráng làng Ven Sông cứu vớt. Về sau một trong số trai tráng ngày ấy gắn bó cả đời với cô Xang nên nghĩa vợ chồng là ông Tư Rói.
Ông kể lũ năm Thìn là lũ lịch sử. Lũ xảy ra ngay sau cơn bão to, ở làng Ven Sông nầy có nhà nước lũ chấm mái tranh vì vậy gây thiệt hại rất lớn về người và của. Đặc biệt nghiêm trọng ở các làng thượng nguồn sông Đông. Có làng như làng của bà Tư Rói coi như xoá sổ. Hàng chục người chết, toàn bộ gia sản cả đời cắc củm gầy dựng chỉ sau mấy ngày bão lũ trở thành tay trắng, phần lớn đã bỏ xứ ra đi tìm nơi khác sinh sống.
Ông Tư Rói bảo:
- Ghê sợ lắm!. Chừ nhớ lại còn thất kinh huống chi... 

Tôi hỏi:
 

- Thế con cháu ông ở đâu mà giờ hai người già sống lụm cụm...
Không để tôi hỏi hết câu ông Tư Rói trả lời ngay:
- Ôi con với cháu lúc nhỏ thì mình nuôi lớn lên nó bay nó nhảy biết mần răng chừ!
Tôi đảo mắt nhìn quanh ngôi nhà ba gian xây gạch lợp ngói.
Hình như biết điều tôi đang suy nghĩ bà Tư Rói nói:
- Nhà của thằng Hai về làm đó!.
Ông Tư Rói rạch ròi sau trận bão năm... cái nhà tranh xiêu vẹo ba anh em con nhà tôi về hùn nhau làm nhưng thằng Hai thì góp nhiều hơn chứ không hẵn chỉ của hắn.
- Mà rứa là tốt quá chứ chi nữa...
Ông Tư Rói nói rồi lục đục đi tìm ly rót nước mời tôi uống chè xanh.
Nước chè xanh nóng hổi bốc khói mang theo hương lá dứa thơm lựng. Ông Tư Rói vừa rót nước vừa phân trần:
- Nghiện đã chục năm rồi!. Có thể nhịn bữa cơm chứ bảo thiếu nước chè xanh này thì chịu!
Tôi đồng ý với ông về điều nầy. Mỗi người khi về già cần có một thú thưởng thức gì đó... giống như các cụ ngày xưa ăn trầu hút thuốc lá. Quê tôi ven sông đất màu mỡ ngoài cho các loại cây trồng lương thực, thực phẩm còn sản xuất ra một loại lá đặc sản lá thuốc lá... Hầu như cả làng đều trồng cây thuốc lá và chế biến sản phẩm từ lá thuốc. Lá thuốc để nguyên quấn thành điếu là loại tốt còn những lá khác được xắt mỏng dính thành sợi gọi là thuốc rê. Thuốc rê quấn giấy quyến hút cũng ngon tuyệt!.
Để có sản phẩm thuốc lá người nông dân phải lao động cật lực lắm!. Ông Tư Rói hay lấy sự cực khổ của vợ chồng ông ra làm bài học “lao động” với con cháu nào là “Lúc tau cỡ tuổi bọn mi chừ, chuyện ăn và ngủ ở bên bờ thửa đất trồng thuốc lá là bình thường”. Cây thuốc lá ham được tưới nước dữ... ai đảm bảo phân tro thuốc men đúng mức đúng lứa và tưới nước đầy đủ sẽ trúng còn ngược lại ôi thôi coi như bỏ công bỏ của!. Hai vợ chồng ông Tư Rói thuở son trẻ mỗi người một đôi gàu nan từ đầu đến cuối vụ ngày đêm trên vai kìn kịt gánh nước tưới thuốc lá. Có thời điểm nắng hạn làm ban ngày không đủ tranh thủ làm thêm ban đêm, khi ấy để biết chừng hàng chưa tưới phải thắp một ngọn đèn dầu đặt tại hàng đó cứ thế gánh nước từ dưới đìa lên chạy tới hàng có cái đèn mà tưới... Đến thời tôi lớn lên cây thuốc lá đặc sản biến mất bởi nhiều lý do... 
Ông Tư Rói hình như nãy giờ quên lửng trên tay đang bưng ly nước chè xanh nên khi dừng kể chuyện cây thuốc lá lật đật tu liền một hơi cạn ly trông thật đã ... rồi tự tán thưởng:
- Chè xanh Phú Thượng... ngon quá!
Phú Thượng cách đây hơn mươi cây số vùng bán sơn địa chuyên trồng cây chè xanh và là sản phẩm được cho là ngon nhất nổi tiếng khắp vùng. Đà Nẵng lên thành phố Phú Thượng thuộc Đà Nẵng nên có người nói “Thành phố có biển có núi và có sông” là không sai.
Người già ở nước ngoài nghe nói phải sống ở các khu dưỡng lão. Chuyện ăn ở như thế bình thường bởi con cái qua mười tám tuổi đều tự tạo một đời sống độc lập. Còn ở mình những tục lệ ngày xưa vẫn còn...
Trường hợp của ông bà Tư Rói là hiếm. Cùng tuổi như ông Tư Rói họ đều nương tựa vào con cái hoặc cháu chắt. Lúc đầu có tiếng vào tiếng ra cho rằng con cháu ông bà Tư Rói vô tâm bỏ ra phố phường hết để hai người già ở quê lụm cụm... Nói tới nói lui một quãng về sau cứ thấy sống như ông bà Tư Rói có hề hấn gì đâu?. Không hơn ông Yên và bà Me cùng làng. Đi theo con với cháu tiện lợi đâu không thấy chỉ thấy phiền hà. Ông Yên kể tính người già hay tỉ mỉ thế mà ra phố cái gì cũng hời hợt chịu không được. Đó là chưa kể nhà ai nấy sống nấy lo tối ngày cửa sắt đóng kín muốn ra ngoài để thăm viếng ai cũng chẳng dễ đợi tới Chủ nhật mới có người đưa đón. Mà không phải muốn đi là được, cả tuần công với sở nước với nhà lu bu bao công chuyện chỉ có một ngày ở nhà. Ở nhà biết bao chuyện dâu con thì bếp núc chợ búa, con trai cháu nội thì phòng ốc chiếu gường... Cái gì cũng cần kíp cả phải làm chứ không để ngày mai được. Có hôm thứ Năm thằng cháu học Đại học hứa ông nội khỏi lo tuần nầy con thi xong rồi vừa nghỉ xả hơi vừa đưa ông đi về quê thăm cô Bốn... Thế mà không rõ quên hay sao ông chuẩn bị áo xống quà cáp hẵng hoi chờ đến chín giờ chẳng thấy tăm hơi. Đang nóng ruột nóng gan cháu nội ông gọi điện thoại xin lỗi ông con thất hứa rồi bây giờ con đang ở... Ông Yên kể lại chuyện cười cười và lắc lắc đầu nói:
- Như ông Tư Rói chắc ăn nhất!
Ngẫm cho kỹ tính như ông Tư Rói đúng quá!. Hai người già lụm cụm lo qua đỡ lại cho nhau khi trái gió trở trời là sung sướng chi bằng. Gần đây trời hay mưa bão với lại bà Tư Rói hay đổ bịnh. Bịnh người già chứ không phải bệnh tật nhưng ông Tư Rói cũng chẳng hơn nên út Sân học xong Đại học đang chờ việc làm được anh em trong nhà cắt cử về ở phòng khi hôm khi mai ông bà có chuyện gì trắc trở có người chăm nom kịp thời. Hôm nay ở quê miết út Sân đã bắt đầu ngán trông thì biết có ý trở ra phố...
Ông Tư Rói châm thêm một lượt nước sôi vào tách chè xanh cẩn thận rót nước vào ly rồi nói:
- Anh thấy đó tụi trẻ là vậy trách chi...
Nói xong ông kêu út Sân lại biểu:
- Tau với mẹ my tự lo mọi chuyện được rồi! Coi ra chỗ anh Hai hỏi thử công việc làm tới mô rồi...
Út Sân như mở cờ trong bụng còn làm bộ lừng khừng:
- Ra cho anh Hai la chết!. Anh Hai bảo tới cuối tuần anh chị về mới quyết định con ra hay ở đây với ba mẹ!
Nói tới đây út Sân móc túi lấy điện thoại ra nghe. Không rõ nói chuyện gì với ai mà có vẻ tâm đầu ý hợp lắm. Cả người nghe và người nói chuyện qua lại lời lẽ đằm thắm và trò chuyện cả nửa giờ đồng hồ mới xong.
Ông Tư Rói nhìn bộ dạng của đứa con út có vẻ đắc ý lắm và nói:
- Từng nớ tuổi rồi ở đây cùng trang lứa không thi đổ đại học ở nhà làm thợ hồ, làm nông có vợ đã có một hai đứa con!. Nó học xong biểu chọn chỗ mô ưng cưới vợ. Nó quầy quậy như đỉa phải vôi... Nhưng tôi biết cỡ như nó mà “phòng không” mới lạ!.
Ông Tư Rói nói một hơi.
Út Sân quay lại ngồi sát bên, quàng tay ôm chặt thắt lưng ông Tư Rói, cười giả lã rồi nói ngọt:
- Chặp nữa nếu anh Hai điện về ba nói cho con sáng mai ra phố nghe ba!
- Biết rồi! Có bồ bịch kêu chứ chi!. Để ba nói....

***
Mưa. Mưa miền Trung kéo dài tháng nầy qua tháng nọ có khi qua tiết Đông chí rồi trời còn tiếc cứ mưa rai rai...
Bây giờ đường sá nhà cửa tiếng là quê nhưng cũng bề thế hơn lên dần. Những con đường bê tông thoáng rộng phủ khắp xóm làng, còn đường tỉnh lộ cái tráng nhựa cái bê tông với cấp phối khá vững chãi tạo ra bộ mặt sáng sủa nhiều... Tuy vậy hễ trời mưa gió thì buồn lắm.
Út Sân ngồi nghĩ mung lung... không như ở phố xá thời nào cũng vậy dù có khó khăn bao nhiêu cuộc sống và nhất là quang cảnh cũng tinh tươm. Quê bây giờ phần lớn là hộ người già, không già cũng ở độ năm mươi tuổi trở lên, cuộc sống làm ruộng làm nông vốn đã khó trong thời khủng hoảng kinh tế toàn cầu càng khó hơn gấp bội. Người nông dân một nắng hai sương bán mặt cho đất bán lưng cho trời vất vả nhiều lắm nhưng thu nhập chẳng là bao so với công sức và vốn đầu tư cho từng vụ mùa.
Chuyện được mùa mất giá hay sự chèn ép của con buôn về giá cả là “chuyện thường ngày ở huyện”. Cái nầy bà con biết mà tự thân không thể nào giải quyết được. Ngày nầy sang tháng nọ cùng năm mãn mùa vẫn vậy...
Cây bão Nari ập vào ngay chỗ làng Ven Sông thiệt hại ít cũng có một người chết, hàng trăm ngôi nhà bị tốc mái xiêu vẹo... Mấy ngày qua nhiều đoàn thiện nguyện chở về nào là mì tôm, nước mắm xì dầu... chăn mền và có cả tiền mặt nữa ủng hộ cho người già và nhà bị bão hư hại ít nhiều.
Út Sân mới đi nhận thế cho ông bà Tư Rói phần quà cứu trợ đâu gần hai trăm ngàn và ba trăm ngàn đồng tiền mặt.
Hồi hôm nghe tivi báo sắp có hai cây bão to liên tiếp đổ bộ vào các tỉnh nam Trung bộ và Nam bộ ảnh hưởng tới Sài Gòn(*). Định ở lại dăm hôm nữa nhưng tình hình bão bùng như thế nội ngày hôm nay phải bay ngay trở về nhà thôi!.
Những ngày về thăm quê lòng tôi cứ lo lo điều gì không rõ nguyên nhân nên viết truyện ngắn nầy trên chiếc laptop mang theo - Chuyện tình già./.
 H.V

(Viết trước siêu bão HaiYan – Quảng Nam, 08/11/2013)
_____________________

(*): Hai cây bão liên tiếp có tên 13 và 14 hướng vào Việt Nam - Bão số 13 khi vào các tỉnh nam Trung bộ trở thành áp thấp nhiệt đới còn bão số 14 (tên quốc tế HaiYan) đang xăm xăm tiến vào các tỉnh trungTrung bộ và bắc Trung bộ Việt Nam với dự báo siêu bão mạnh nhất từ trước nay (H.V).