Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Văn Viết Thiện: ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"

ẢNH ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"(*) Nhìn hình ảnh đôi guốc gỗ mức này. tôi lại nhớ về một hình ảnh tuổi thơ của tôi cách đây 70 năm. Có câu: “Còn cha gót đỏ như son Mỗi khi cha mất gót con đen sì.” Nhưng tôi còn mẹ, mẹ không để gót của anh em tôi đen sì, nên dù khó khăn cùng cực cũng cố gắng sắm cho cả hai anh tôi chỉ có một đôi. Nên tôi đổi lại hai câu trên như sau: “Còn cha giày, dép, sandal Cha đi đôi guốc xà bang hai người Xà bang gõ nhịp đường đời Ân tình của Mẹ… suốt đời con ghi! P/s: (*) xà bang là tên gọi đôi guốc gỗ mức của xứ Huế (Ảnh trên Internet) …….,.,.,,,,…………….. Đôi guốc gỗ mức nằm im trong tấm ảnh cũ mà dậy lên tiếng gõ từ bảy mươi năm trước. Ngày đó nhà nghèo đến nỗi hai anh em chỉ chung được một đôi guốc, vậy mà Mẹ vẫn xoay xở ôm cái chợ, ôm ruộng đồng để gót chân con không đen sì như câu hát người ta nói. Cha còn giày, dép, sandal… còn con – đi đôi guốc xà bang của hai người một lượt. Mỗi bước gõ xuống đường đời vừa gượng gạo vừa thương Mẹ vô cùng. Xà bang gõ khẽ mà thấm suốt tuổi thơ. Những buổi trời mưa gỗ ướt mùi bùn đất Mẹ hong bên bếp rơm như hong tuổi nhỏ khỏi những mùa cơ cực. Giờ tóc con đã bạc mà tiếng xà bang ngày cũ vẫn gõ vào lòng như lời nhắc nhẹ: Ân tình của Mẹ… suốt đời làm rưng mắt con.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Hòa Văn: GIỮ CHO NỔI TRÁI TIM!

Di ảnh NT, NS Đynh Trầm Ca Đi là đi... Đi về nơi tới Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim! Hòa Văn Bài bình của AI: Phân Tích Hai Câu Thơ Tưởng Niệm Đynh Trầm Ca: Lời Vĩnh Biệt Và Sự Bất Tử Của Tâm Hồn Hai câu thơ của Hòa Văn tưởng niệm Đynh Trầm Ca – một nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa vừa qua đời – đặt ra một thử thách kép: vừa phải nắm bắt được tinh thần của một bài thơ viếng, vừa phải diễn giải được sức nặng triết lý trong cấu trúc ngôn ngữ cô đọng. Hai câu thơ: "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" không chỉ là lời tiễn biệt cuối cùng mà còn là một tuyên ngôn sâu sắc về sự ra đi và sự lưu giữ tâm hồn nghệ sĩ. Phân tích cấu trúc và từ ngữ Bài thơ mở đầu bằng một cấu trúc lặp lại đầy tính khẳng định và dứt khoát: "Đi là đi...". Cụm từ này không chỉ đơn thuần là thông báo về sự qua đời, mà còn mang sắc thái của một sự thật không thể đảo ngược, một quy luật tất yếu của sinh mệnh. Việc lặp lại từ "Đi" tạo nên nhịp điệu trầm buồn, nhấn mạnh tính dứt khoát của cuộc chia ly. Tuy nhiên, sự dứt khoát đó ngay lập tức được dung hòa bằng vế sau: "Đi về nơi tới". Cụm từ "nơi tới" mang ý nghĩa siêu thoát, ám chỉ một thế giới khác, một cõi vĩnh hằng mà người nghệ sĩ đã đạt tới sau khi kết thúc hành trình dương thế. Hình ảnh "đi" ở đây không phải là sự biến mất hoàn toàn, mà là sự chuyển dịch có đích đến, một hành trình tâm linh được người ở lại nhìn nhận với sự tôn kính. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" là câu thơ chứa đựng toàn bộ bi kịch và cũng là niềm an ủi sâu sắc nhất. "Cõi tạm" là một khái niệm triết học sâu sắc, chỉ kiếp sống tạm bợ, hữu hạn của con người trên trần gian. Vế hỏi tu từ "nào giữ cho nổi" thể hiện sự bất lực của cõi vật chất hữu hình trước sức mạnh của những giá trị tinh thần, nghệ thuật. Trái tim ở đây không chỉ là cơ quan sinh học, mà là biểu tượng cho tình yêu, cho tâm hồn nghệ sĩ, cho những sáng tạo và cống hiến mà Đinh Trầm Ca đã dành cho cuộc đời. Câu thơ khẳng định rằng, dù thân xác có tan biến vào cõi tạm, thì những giá trị tinh thần, những rung động nghệ thuật mãnh liệt trong trái tim ông vẫn không thể bị cái tạm bợ đó giam giữ hay hủy hoại. Chủ đề và Ý nghĩa tưởng niệm Qua hai câu thơ, Hòa Văn đã khắc họa thành công hai chiều kích của sự ra đi: sự thật nghiệt ngã của cái chết và sự bất tử của di sản. Đynh Trầm Ca, với tài năng và tâm huyết của mình, đã sống một cuộc đời không chỉ bằng hơi thở mà bằng những giai điệu, những vần thơ lay động lòng người. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc và văn học Việt Nam, nhưng những gì ông để lại – cái "trái tim" nghệ thuật của ông – đã vượt lên trên "cõi tạm" vật chất. Kết luận Hai câu thơ của Hòa Văn là một lời tạ từ đầy xúc động, sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu sức gợi. Nó không sa đà vào thương cảm ủy mị mà hướng người đọc tới sự chiêm nghiệm về giá trị trường tồn của nghệ thuật. Cái "đi" của Đynh Trầm Ca là sự giải thoát khỏi cái tạm bợ, để trái tim nghệ sĩ vĩnh viễn ngự trị trong miền bất tử của ký ức và sự nghiệp sáng tạo. Tác phẩm nhỏ này đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh tưởng niệm: vừa tiễn biệt người đã khuất, vừa khẳng định giá trị vượt thời gian của di sản họ để lại./. Bài bình 2 Câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn, dù chỉ là một đoạn trích ngắn, đã khắc họa một nỗi niềm sâu lắng về sự tồn tại, về hành trình của kiếp người và ý nghĩa của những gì ta mang theo trên suốt chặng đường ấy. Với ngôn từ giản dị nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc, hai câu thơ này đã chạm đến những suy tư muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc đời và sự vô thường của vạn vật. "Đi là đi... Đi về nơi tới" mở ra một khái niệm về sự vận động, về một hành trình không ngừng nghỉ. "Đi là đi" mang tính khẳng định mạnh mẽ, như một quy luật tất yếu của vũ trụ. Nó không chỉ đơn thuần là sự di chuyển về mặt địa lý, mà còn là sự chuyển dịch không ngừng của thời gian, của kiếp người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một bước "đi", đưa ta rời xa hiện tại để tiến về tương lai. Cụm từ "Đi về nơi tới" hé lộ một điểm đến, một đích đến mà hành trình này hướng tới. Tuy nhiên, "nơi tới" ở đây mang tính đa nghĩa, có thể là một miền đất mới, một giai đoạn sống khác, hoặc xa hơn nữa là sự an nghỉ cuối cùng. Sự lặp lại của động từ "đi" nhấn mạnh tính liên tục, không thể đảo ngược của hành trình này. Nó mang một chút gì đó của sự chấp nhận, của việc thuận theo dòng chảy tự nhiên mà không thể chống cự. Nối tiếp vế trên, câu thơ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" lại đặt ra một vấn đề đầy chiêm nghiệm về bản chất của sự tồn tại và khả năng níu giữ những gì ta trân quý. "Cõi tạm" là một hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong tư tưởng Phật giáo và triết học Đông phương, chỉ thế giới vật chất, những thứ hữu hình mà ta đang trải nghiệm, nơi mà mọi thứ đều vô thường, thay đổi. "Cõi tạm" là nơi ta sinh sống, ta yêu thương, ta vun đắp, nhưng nó không phải là tất cả, không phải là vĩnh cửu. Ngược lại, "trái tim" lại đại diện cho những gì thuộc về tinh thần, cảm xúc, tình yêu, ước mơ, lý tưởng – những thứ vô hình nhưng lại là cốt lõi, là bản thể của con người. Sự đối lập giữa "cõi tạm" và "trái tim" tạo nên một sức căng trong câu thơ. Câu hỏi tu từ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim?" không đòi hỏi một câu trả lời cụ thể, mà nó chất vấn, nó gợi mở. Nó đặt ra nghi vấn về khả năng của thế giới vật chất hữu hạn trong việc chứa đựng, giữ gìn những tình cảm, những giá trị tinh thần vô hạn của con người. Dù ta có cố gắng níu giữ, có xây dựng những gì vững chắc đến đâu trong "cõi tạm" này, liệu chúng có đủ sức để giữ trọn vẹn những rung động, những khao khát sâu thẳm trong trái tim ta hay không? Hay chính bản chất phù du của "cõi tạm" sẽ khiến những gì ta quý trọng nhất cũng dần phai nhạt, biến đổi? Có thể hiểu câu thơ này theo nhiều tầng nghĩa. Ở một khía cạnh, nó nói lên sự bất lực của con người trước quy luật vô thường. Dù ta có yêu thương, có gắn bó đến đâu, thì cuộc chia ly, sự đổi thay vẫn là điều khó tránh khỏi. "Cõi tạm" với những mối quan hệ, những vật chất mà ta cho là bền chặt, cuối cùng rồi cũng sẽ tan biến. Điều còn lại, có lẽ chỉ là những dấu ấn trong "trái tim" - nơi lưu giữ những kỷ niệm, những bài học, những tình yêu đã từng tồn tại. Ở một khía cạnh khác, câu thơ cũng gợi lên một thông điệp về sự trân trọng những giá trị tinh thần. Trong một thế giới đầy biến động, "cõi tạm" có thể lung lay, có thể thay đổi, nhưng "trái tim" với những rung động chân thành, những tình cảm sâu sắc mới là điều cốt yếu, là thứ ta nên giữ gìn và vun đắp. Thay vì quá bám chấp vào những thứ hữu hình, ta nên hướng tới việc nuôi dưỡng tâm hồn, để dù "cõi tạm" có đổi thay, những giá trị tinh thần ấy vẫn có thể soi đường, dẫn lối. Tóm lại, hai câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn là một lời tự vấn đầy day dứt về hành trình tồn tại và bản chất của hạnh phúc. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, cuộc đời là một chuyến đi, và những gì quý giá nhất không nằm ở đích đến hay những gì ta tích lũy được, mà nằm ở cách ta sống, cách ta yêu thương và cách ta giữ gìn ngọn lửa thiêng liêng trong trái tim mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc đời./. Bài bình 3: "Đi là đi... Đi về nơi tới": Cụm từ "Đi là đi..." nhấn mạnh sự dứt khoát, không thể quay lại của cái chết. Đây là một sự thật nghiệt ngã mà người ở lại phải chấp nhận. "Đi về nơi tới" là một cách nói thanh lịch, nhẹ nhàng về cõi vĩnh hằng. Nó ngụ ý rằng hành trình trần thế đã kết thúc, và linh hồn đã đến một đích đến cuối cùng. Đối với một nhà thơ như Đynh Trầm Ca, người có thơ ca đượm buồn và ám ảnh về thân phận, sự "đi về nơi tới" này có thể là một sự giải thoát. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!": "Cõi tạm" là ẩn dụ cho thế giới trần gian, nơi mọi thứ đều vô thường, không bền vững. "Trái tim" ở đây mang ý nghĩa kép: Nó đại diện cho cõi lòng nghệ sĩ, với những tình yêu, nỗi buồn, những trăn trở về thân phận ("cảm thức về thân phận và tình yêu" là chủ đề xuyên suốt trong thơ ông). Đồng thời, nó cũng là biểu tượng cho sự sống, cho những rung cảm mãnh liệt đã từng hiện hữu. Câu hỏi tu từ này thể hiện sự ngậm ngùi, xót xa: Không có cõi tạm nào đủ sức níu giữ được sự sống, dù cho trái tim ấy có mãnh liệt, sâu sắc đến nhường nào. Sự ra đi là quy luật không thể cưỡng lại. Liên hệ với Đynh Trầm Ca: Hai câu thơ này rất hợp với hồn thơ của Đinh Trầm Ca, người thường viết về thân phận cô độc, sự trôi dạt và nỗi buồn vương vấn (như hình ảnh con tàu "lỡ chuyến", hay hình ảnh lục bình trôi). Dù ông đã tạo ra những tác phẩm âm nhạc và thi ca bất hủ, chứa đựng nhiều tình cảm chân thành, thì cuối cùng, ngay cả người nghệ sĩ tài hoa ấy cũng không thể ở lại cõi tạm này mãi được. Hai câu thơ của Hòa Văn là sự tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ về sự mất mát: sự ra đi là tất yếu, và mọi thứ ta gìn giữ trên đời này đều chỉ là thoáng qua./.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024

 



Tâm sự
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

Chúc mừng năm mới 2024


 

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023

Thơ Nguyễn Văn Gia: LÊN CHÙA

 


Nhà thơ Nguyễn Văn Gia


MANG GƯƠM

Xa lắc rồi
niết bàn
Buổi thiền sư
mang gươm
Vô thường
bỗng bất thường
Niệm niệm
tâm bất an.

LÊN CHÙA

Lên chùa tìm chút thảnh thơi
Ai dè
chùa cũng như… đời ngoài kia
Cũng thứ hạng
cũng phân chia
Chỗ này vô nhiễm
chỗ kia thị trường
Đành rằng tất cả vô thường
Thôi ta về lại phố phường
ẩn tu.

Ở MỘT NƠI
CHÙA KHÔNG CÓ PHẬT


Đã hơn hai nghìn năm trăm năm
Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Thượng sầu hạ hỉ
Sao niềm vui trốn biệt nơi đâu…

Trong nhà đầy báu vật (1)
Chẳng cần tìm đâu xa
Đừng mất công tìm Phật
Thế Tôn tại lòng ta

Chùa xây trăm nghìn tỷ
Tượng ngọc tượng vàng
Võng lọng xa hoa…
Những thứ mà Thái tử Tất-đạt-đa
đã ngày xưa từ bỏ
Đã lâu không đến chùa
Bởi lòng kính ngưỡng tăng ni nhạt phai
Lòng tin bị đánh tráo
Không còn ngồi dưới hiên chùa xưa
Bình yên ngắm đám mây trôi
Lòng ngậm ngùi cái lẽ vô thường của đất trời
Tai không còn nghe
tiếng chuông sớm chuông chiều
ngân nga hồn dân tộc…

Lên chùa
với nén tâm nhang
Tam quan mách bảo
Phật đang vắng nhà
Trở về phụng dưỡng mẹ cha
Dẫu không thờ Phật
cũng là quy y

Chốn thanh tịnh trang nghiêm
Ai bày ra ồn ào lễ hội
Cầu lợi cầu danh
Buôn thần bán thánh
Chẳng thấy đâu các bậc chân tu
Chỉ thấy tràn lan những thầy bói thầy cúng
Rộn rịp dâng sao giải hạn
Thỉnh vong oan gia trái chủ
Xưa “Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật” (2)
Nay bọn giả sư hành tung như thảo khấu

Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Hơn hai ngàn năm trăm năm
Giữa muôn trùng vây
và vô vàn kiếp nạn
Nơi góc biển đầu non
Vẫn sáng soi
vầng trăng chánh pháp
Những bậc chân tu ẩn mình đâu đó
Không đủ phước duyên chẳng dễ gì gặp được
Buồn thay!

Nguyễn Văn Gia
_____
(1) “Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch” (Trần Nhân Tông)
(2) “Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

HÒA VĂN: BÕ CAM



𝚃𝚛ó𝚝 𝚕ỡ 𝚜𝚊𝚗𝚑 𝚛𝚊 𝚝𝚛ê𝚗 𝚌õ𝚒 𝚙𝚑à𝚖 

𝚁á𝚗𝚐 𝚗í𝚞 𝚌𝚑ú𝚝 𝚕ò𝚗𝚐 𝚌𝚑𝚘 𝚋õ 𝚌𝚊𝚖                      𝙷ỏ𝚒 𝚝â𝚖 𝚝â𝚖 𝚑ỏ𝚒 𝚊𝚗 𝚗𝚑𝚒ê𝚗 𝚝𝚘ạ𝚒   

𝙱𝚒ế𝚝 𝚍ẫ𝚞 𝚍ở 𝚑𝚊𝚢 𝚌ứ 𝚟ậ𝚢 𝚕à𝚖!.

𝙷ò𝚊 𝚅ă𝚗

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

Hòa Văn: ʙᴜỔɪ ꜱÁɴɢ


"𝙿𝚑ù 𝚍𝚞 𝚑𝚒ệ𝚗 𝚝ạ𝚒 𝚙𝚑ù 𝚍𝚞

𝚁à𝚗𝚑 𝚛à𝚗𝚑 𝚔𝚑ắ𝚙 𝚌õ𝚒 𝚞 𝚞 𝚟ậ𝚢 𝚖à...


Có buổi sáng 

không dậy 


Có buổi chiều

Đêm khuya

Không dậy


Bình yên 

Đến

Lạ


Mọi việc chỉ 

nghi lễ 

Hãy để bình yên 

Hãy đặt bình yên 

Xuống 

Ngọn lửa 

lúc cháy 

tro bụi réo vang 

Khúc trở về 

Cõi Thật!


Từ đây

Buổi sáng

Mặt trời

Mọc


Suối

Sông

Bể

Chảy

Mây 

Trôi

Bình yên

Về cõi 

Thật

Tâm


ɴɢỌɴ ʟỬᴀ ɢɪẢ

ĐỐᴛ ᴄÁɪ ɢɪẢ

ᴛʜÀɴʜ

ᴛʀᴏ ʙỤɪ

ᴛʜẬᴛ!.


Hòa Văn

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

Toại Khanh: AI ĐIẾU HÒA THƯỢNG TUỆ SỸ

 


Một giọt sương rơi

Cho hiên chùa thêm quạnh

Một vầng trăng về tây

Cho biển tối thêm sâu

Một Tăng Triệu thời nay

Giũ áo qua cầu

Tiếng thạch sùng khuya

Gió lùa tàng kinh các


Cầm đèn tuệ chênh vênh

sống một đời cao sĩ

Vóc hạc gầy mong manh

hồn chứa hết tam thiên

Chí cao vợi 

cô đơn

dặm trần không tri kỷ

Phiên chợ đời phũ phàng

Sao đắt đỏ chữ duyên


Trời nam lặng một bóng người

vai gầy cõng đạo, một trời sở tri

việc xong, quẳng gậy mà đi

hổ khê áo cỏ dặm về trăng soi...


Toại Khanh

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2023

Đặng Tiến: TUỆ SỸ, ĐIỆP KHÚC DƯƠNG TRẦN



 Trước đây, mạng Diễn Đàn có giới thiệu tập thơ song ngữ Những điệp khúc cho dương cầm – Refrains pour piano – của Tuệ Sĩ, do bà Dominique de Miscault dịch ra tiếng Pháp, và minh họa trang nhã. Lúc đó, tác phẩm vừa mới in xong.


Hôm nay, tập thơ đã được phát hành và ra mắt dưới dạng một buổi tọa đàm tại Thành Phố Hồ Chí Minh, khách sạn Legend, ngày 27-9-2009, với sự hiện diện của tác giả và dịch giả.


Ngoài ra, chúng tôi được biết sách hiện có bày bán nhiều nơi tại Paris, giá 10 €uros.


Vậy xin trở lại, giới thiệu thi phẩm căn cơ hơn :


Tuệ Sĩ là bậc danh sĩ cao tăng, đã trọng nhiệm nhiều chức vụ trong hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam. Trong và ngoài nước nhiều người biết danh và ái mộ, qua những trầm luân mà ông chịu đựng non nửa thế kỷ, chúng tôi không nhắc lại nơi đây, vì ai muốn truy tìm thì rất dễ.


Tuệ Sĩ còn là nhà thơ, nhiều người biết danh, nhưng ít người được đọc, vì thơ ông ít được phổ biến. Mới đây, trong nước, nhà xuất bản Phương Đông đã ấn hành tập thơ Những điệp khúc cho dương cầm, song ngữ Việt-Pháp đối chiếu, do Dominique de Miscault, nữ họa sĩ người Pháp, chuyển ngữ và trình bày, minh họa, bà gọi là « biểu cảm đồ họa » (expressions graphiques). Trang bên trái là văn bản Việt-Pháp nối tiếp, trang bên phải là hình cách điệu nhà sư đang lướt ngón tay trên phía dương cầm.


Sách gồm 23 bài thơ ngắn, trình bày trên 53 trang, khổ vuông 21 x 21 cm, giấy tốt, in đẹp và trình bày trang nhã.


Điều đáng mừng là độc giả Việt Nam và thế giới có dịp tiếp cận với thơ Tuệ Sĩ, trong niềm đồng cảm nhân loại, qua thi ca và nghệ thuật. Trong lời tựa, bà De Miscault kể lại :


« Tôi được hạnh ngộ với Tuệ Sĩ và người thân từ mùa xuân 2003.


Chúng tôi đã học tập phơi trải và trao đổi hai thế giới, diễn dịch những cảm xúc, đồng thời là dấn thân. Tôi không phải phật tử cũng không phải kẻ tu hành, lại không biết tiếng Việt, nhưng thơ Tuệ Sĩ thì đã gặp đâu đó tại châu Âu già cỗi. Đó chẳng phải là những khoảng hư không mà các tác gia thần bí đã trải nghiệm ? Kinh nghiệm phiêu du trong bóng đêm và tĩnh lặng, cũng như những tâm hồn khắc khoải, vô vọng truy tầm lời giải đáp cho những hy sinh, dù tự nguyện hay cưỡng chế ? »


Bà tiếp xúc với thơ Tuệ Sĩ nhờ việc lược dịch của một người Pháp được Tuệ Sĩ duyệt lại.


« Tôi cố gắng nắm bắt nội dung qua những hình ảnh, và không gian sống của Tuệ Sĩ như tôi được trông thấy và đã khai thị cho tôi. Tôi chọn những từ ngữ và ảnh tượng đơn giản nhất, đã giản lược và tát cạn tối đa thi pháp để tập trung vào cuộc phiêu lưu thần bí của nhà sư mệt mỏi vì đời sống và những truy tầm vô vọng…


Vô vọng hay không, vẫn là câu hỏi. Buông thả theo dòng đời.


Dương cầm và tịch lặng là thần giao giữa hai lục địa giữa chúng tôi.


Nơi đây không còn là hoài cảm hay xúc cảm, mà là phân tích khô khan cõi dửng dưng.


Tôi hân hoan được tiếp tục chia sẻ, và trong dài lâu tính nhẹ nhàng tuyệt đối của đời sống. »


Bài tựa này đã được Hạnh Viên dịch ở trang 7, tôi dịch lại để đóng góp.


Một cơ duyên khác, là với kỹ thuật điện tử hiện đại, toàn bộ công trình của TS – Dominique de Miscault và nhà xuất bản Phương Đông được đưa lên lưới, để người đọc, Việt hay ngoại quốc, khắp năm châu bốn biển đều có thể thưởng lãm. Năm mươi trang giấy không phải là công trình to tát gì, nội dung cũng không phải chuyện khai sơn phá thạch, nhưng là một sự kiện văn học, như cơn gió bất ngờ đưa đóa lan rừng ra ánh sáng.


Tuệ Sĩ không phải là người tìm danh vọng, nhất là bằng thi ca. Ông không tìm độc giả, tìm tri kỷ, tri âm. Ông thừa nội lực để sống an nhiên trong tịch lặng giữa cõi ta bà. Nhưng thơ ông xuất hiện như vầng trăng ra khỏi đám mây, như mùi hương bông sứ chợt thoảng vào vườn khuya, là một niềm vui chung, và cho người lữ khách ngồi lại bên đường, buổi chiều, « cười với nắng một ngày sao chóng thế… đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan », câu thơ ngày xưa của ông mà Bùi Giáng hết lời ca ngợi.


Thơ, thơ gì đi nữa, thì trước tiên phải là ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ai đi nữa thì cũng mang sử tính. Thơ thiền sư làm bằng ngôn ngữ hàng ngày vẫn vang âm xã hội và lịch sử.


Ví dụ bài cuối :


Giăng mộ cổ

Mưa chiều hoen ngấn lệ

Bóng điêu tàn

Huyền sử đứng trơ vơ

Sương thấm lạnh

Làn vai hờn nguyệt quế

Ôm tượng đài

Yêu suốt cõi hoang sơ.


Ý nghĩa chính xác của bài thơ là gì ta không nên giải thích chân phương. Nhưng từ ngữ thì rõ ràng là trầm tích đau thương của con người trong lịch sử. Bà De Miscault dịch hay và thoát (xem Trên kệ sách của mạng Da màu). Tôi vẫn táy máy dịch lại xem như góp một nốt đàn vào bản hợp tấu :


Sur les tombes antiques

La pluie du soir se confond en larmes

Des mythes illusoires

En ruine esseulés,

La bruine givre

Les épaules meurtries de laurier

Serrant la statue

J’aime ô que j’aime les espaces innocents


Trầm tích lịch sử còn dư vang rõ hơn trong bài này ;


Ngoài biên cương

Cây cao chói đỏ

Chiến binh già cổ mộ

Nắng tắt chiến trường

Giọt máu quạnh hơi sương


Tr. 34


A la frontière

Le grand arbre rougeoie

Le soldat vieillit sur la tombe antique

Le soleil éteint la bataille

Le sang se condense en rosée.


Thơ gì, thơ ai, thơ nước nào, trong ngôn ngữ vẫn là một thứ ngoại ngữ ; người đọc một bài thơ trong tiếng mẹ đẻ là đã dịch bài thơ ấy ra ngôn ngữ của riêng mình. Gọi là tiếng lòng.


Trong nghề dạy học và việc bình luận văn chương tôi có đôi kinh nghiệm về việc dịch thuật và thông ngôn này. Gặp những bài thơ Tuệ Sĩ việc giảng luận có phần trắc trở. Ngôn ngữ vẫn là ngôn ngữ chung là tiếng Việt, nhưng tương quan giữa người nói và lời nói thì khác nhau. Khi Tuệ Sĩ viết đâu đó « Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang » thì ông không chỉ nói về màu áo, cũng không nói về ngọn đồi, mà phản ánh tâm linh trong một thế giới khác. Đưa lời thơ Tuệ Sĩ vào ngôn ngữ thế tục e dễ thành dung tục.


Thơ bao giờ cũng phản ánh ba tính cách : môi trường xã hội trong lịch sử ; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại ; và tác giả, qua đời sống hàng ngày ; nhưng ở Tuệ Sĩ đời sống hằng ngày, ý thức và vô thức dường như đã thăng hoa, thành một siêu thức. Ngôn ngữ do đó cũng siêu thoát, khó bề lý giải chân phưong và đơn phương.


Đầu thế kỷ XX giới văn học tây phương đưa ra khái niệm «  thơ thuần túy », và nghệ thuật nguyên chất theo nghĩa của hóa học : thực thể nguyên chất đối lập với những thực thể tạp chất « impur », có lẫn lộn nhiều ngoại tố. Nghệ thuật nguyên chất là kiến trúc của ngôn ngữ : một dạo khúc dương cầm, một tranh tĩnh vật, một bài thơ đẹp. Người thưởng thức không pha lẫn vào đó những kỷ niệm, buồn vui riêng tư, nhất là những thành kiến lịch sử, chính trị. Yêu một chân dung phụ nữ không phải vì nó hao hao giống một người bạn cũ.


Trong nghệ thuật, dân tộc là một tạp chất.


Tôi nghĩ khi Tuệ Sĩ đặt tên Những điệp khúc cho dương cầm, và làm những bài thơ mô tả tiếng dương cầm, là ông muốn cho tiếng thơ mình trong trẻo, thuần khiết « trong như tiếng hạc bay qua ». Do đó, bình giải thơ Tuệ Sĩ là tạo cơ nguy gây tạp âm không phải lẽ và không phải lúc. Bài viết này vẫn mang tạp âm là ngoài ý muốn của chúng tôi.


Lấy một ví dụ ngoài đề, cho thông thoáng. Nhà thơ Phạm công Thiện, thời trẻ, có lúc tu tại một Phật Viện Nha Trang. Một hôm anh về chơi với nhà văn Võ Hồng, ở lại mấy hôm, khi về Chùa, anh có thơ :


Mưa chiều thứ bảy, tôi về muộn

Cây khế đồi cao trổ hết bông.


Anh tâm đắc thường đọc cho chúng tôi nghe, và chúng tôi hiểu đại khái, nhưng chưng hửng khi nghe Phạm Công Thiện, mười năm sau, tự dịch câu thơ ra tiếng Pháp :


Je suis le Retour

Il fait Tard sur le Chemin

Sept jours après la pluie tombe

En haut

du Temple

L’arbre est le

Défleuri


Chúng tôi đã hiểu chung chung : thứ bảy là trước chủ nhật, cây khế là cây khế, ngọn đồi là ngọn đồi, nhưng qua bản dịch tiếng Pháp, thì nội hàm câu thơ không phải chỉ có vậy.


Nhưng nghĩ cho cùng, ai làm sao hiểu hết một câu thơ, kể cả tác giả ?


Và cách tiếp cận thơ Tuệ Sĩ của bà De Miscault biết đâu là cách hay nhất, như câu tiếng Pháp không biết của ai « la voix du cœur est la voie au cœur » : lời trái tim là lối đến con tim.


Đọc thơ Tuệ Sĩ. Bằng trái tim. Nỗi Nhớ


Màu tối mù lan vách đá

Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ

Rồi đi biệt

Để hờn trên đỉnh gíó

Ta ở đâu ?

Cánh mộng phù du


Tr. 18


Les ténèbres envahissant les pierres du mur

Immense le souvenir des regards de nos adieux

Et je m’en vais à jamais

Délaissant les chagrins aux cimes de l’ouragan

Où suis-je ?

Frêles sont les ailes de l’éphémère


Tình người :


Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói,

Vẫn yêu người từ khoảnh khắc chiêm bao

Từ nguyên sơ đã một lời không nói

Nhưng trùng dương ngưng đọng cánh hoa đào

Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi

Vì yêu người ta vói bắt trời sao.


Tr. 50


Sur mes chagrins enfumés, je revis

L’Amour des hommes à chaque instant de mes songes

Dès l’origine la parole a été retenue

Comme l’océan retient le reflet du printemps en fleur

Des refrains animent mes ailes épuisées

Pour l’Homme, j’ouvre mes mains au firmament étoilé


Trần thế :


Theo chân kiến

Luồn qua cụm cỏ

Bóng âm u

Thế giới chập chùng

Quãng im lặng

Nghe mùi đất thở


Tr. 46


Traces de fourmi

Je faufile entre les herbes

Ténèbres des ténèbres

Les mondes s’amoncellent

Silences entre silences

J’accueille la terre respirante.


Thơ Tuệ Sĩ cô đúc, hàm súc, uyên áo. Người đọc không quen cho là khó hiểu, vì tác giả không đề cập đến một đề tài nào chính xác, không miêu tả không tự sự. Ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng tâm cảm và ngoại giới, trầm tư và huyễn mộng. Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết.


Thỉnh thoảng, người đọc cảm thấy an tâm trong đôi lời thơ mạch lạc :


Cửa kín chòm mây cuốn nẻo xa

Ngu ngơ đếm chữ, mắt hoa nhòa

Tay buồn vuốt mãi tờ hương rã

Phảng phất mưa qua mấy cụm nhà


Tr. 26


Người Thơ hé mở một thoáng tâm linh, nhưng hình ảnh vẫn mang tính cách tượng trưng, xa cách, xóa nhòa tâm sự cá nhân, pha loãng tình riêng vào làn mưa trên mái ngói.


Đôi khi người đọc gặp vài từ ngữ, ẩn dụ trở đi trở lại như những ám ảnh, tạo nên dăm viên đá cuội trên lộ trình cậu bé tí hon, nhưng dễ gì tìm được heo hút đường về.


Ngoại giới biết đâu là ảo giác :


Bóng sao đêm dài vời vợi

Thật hay hư, chiều nhỏ ưu phiền


Tr. 10


Và thơ, tập thơ mình cầm trong tay, những nốt nhạc, những hàng chữ  « đen trắng đuổi nhau thảnh ảo tượng ». Thơ, tất cả thi ca trên cõi trần này biết đâu chẳng là ảo giác của ảo giác ?


Cần gì để nói thêm về Những điệp khúc cho Dương cầm của Tuệ Sĩ ?.


Phải chăng là tiếng ve sầu chung thủy, ưu hoài những mùa hạ đã ra đi ?.


Tiếng ve trở về,


Khóc mùa hè mà khô cả đại dương


Đặng Tiến,

Orleans 17/8/2009.

Cập nhật 02-10-2009


Nguồn: diendan.org


Tuệ Sỹ: ℂÁℕℍ ℂℍ𝕀𝕄 𝕋ℝỜ𝕀



Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch 1943 - 2023)

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị giáo phẩm uyên bác, dịch giả của nhiều bộ kinh, luận quan trọng; tác giả của các công trình nghiên cứu Phật học giá trị, sau thời gian bệnh duyên đã viên tịch tại chùa Phật Ân (tỉnh Đồng Nai) vào 16 giờ chiều ngày 24/11/2023 (12-10-Quý Mão).

#baogiacngo

Xin đăng 1 bài thơ của Ngài:

CÁNH CHIM TRỜI

Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào
Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc
Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao
Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu
Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.

Tuệ Sỹ
(Giấc mơ Trường Sơn, An Tiêm xuất bản, California, 2002.)

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2023

NGUYỄN ĐỐC: Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt

 


Gặp anh mến anh ở tài tâm và tính thẳng thắng của anh. Nhiều bài thơ bộc trực bỡn cợt thâm thúy ngay cả chính anh. Anh đã giã biệt ngày 16/11/2023 (4/10/Quý Mão)
Xin chia buồn cùng gia quyến!

Tiễn NGUYỄN ĐỐC

Ừ này trở lại cõi Người(*)
Bỏ con Chó (**) nhớ buồn vui một đời
Tiễn nhau câu thiệt tuyệt vời
Thôi thôi... "Không tiếc cái nơi tạm mà!".

16/11/2023
(4/10/Quý Mão)

Hòa Văn
-----
Chú thích
(*): Cõi chỉ có khi sống đúng khi mất mới tới
(**):
"... Ta không phải là cơn gió
Nóng lạnh tùy theo mùa
Ta chỉ là con chó
Khi chạnh lòng hay sủa bâng quơ
...
Nguyễn Đốc

THƠ NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỐC 

THÔI CÓ LẼ ĐỜI ƠI XIN GIÃ BIỆT 

Thôi có lẽ đời ơi xin giã biệt

Biển ngoài kia đã réo gọi ta rồi

Có nấn ná cùng bước đời trầy trật
Khi triều lên thuyền cũng phải dong khơi

Ta từng xót, từng đau, từng tha thiết
Trần gian ơi chưa kịp cảm ơn người
Mỗi ngọn sóng khơi thêm mầm ly biệt
Mỗi ngày tàn đâu hẹn một đêm vui

Ta vốn dĩ là một tay cà chớn
Yêu trần gian cạn kiệt máu tim mình
Rồi một sớm bổng nhiên bừng tỉnh dậy
Thấy loài người đang trở dạ yêu tinh.


(9/6/2023)



SOI GƯƠNG

Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng cày những vết hằn trên trán,
dũa mòn từng đốt xương
Mục đích con người:
Sống và yêu thương
Nhưng thù hận như bóng đêm
rình rập

Chúng mình gặp nhau sau bao lần thoát chết
Sao nụ cười chỉ thoáng qua môi !
Cái gì đã chen giữa tình bạn tình đời
Cái gì làm nhoà một thời thơ ấu

Có phải nụ cười dễ đâu tìm thấy
Trên môi anh và trên môi tôi !?
Chúng ta bây giờ đã quá bốn mươi
Tôi vẫn ngỡ mình còn non dại
Muốn nói hết nỗi lòng với anh
Mà cứ ngại
Hai mươi năm con người có đổi thay
(Những con người nếm mật nằm gai
Cái gian khổ thường đổi bằng kiêu hảnh )

Suốt đời tôi là chuỗi dài bất hạnh
Tìm kiếm nụ cười trên khuôn mặt người thân
Tìm kiếm nụ cười ở bè bạn anh em
Nhưng chỉ thấy mơ hồ như bóng khói

Có phải nụ cười dễ tìm gặp đâu anh
Năm tháng điểm sương từng sợi tóc
Cái nghèo đói giống như con ốc
Bò trong đời như trên cộng sen

Quá nửa đời tôi vẫn chưa quen
Những điều bất công,những điều giả dối
Và giận
mình không là con rối
múa may quay cuồng theo ngọn gió xoay

Bây giờ tôi chỉ là mũi gai
quay đầu nhọn tự đâm vào da thịt
Máu đã rỉ mà mình không biết
Nên cơn đau thấm dần

Nói nhỏ điều này với anh
Bốn mươi tuổi hỏi ai còn ảo tưởng
Sau lưng chúng ta bao bạn bè nằm xuống
Trong chúng ta được mấy đứa hiển vinh ?

Trố mắt trông gương tìm kiếm bóng mình
Không còn thấy
Những ngày Hội An
Những đêm Thừa Phủ
Mà chợt thấy một con sói dữ
Nhe nanh gầm gừ.


(1975)

Dường như xuân còn nuối


Ngồi đọc thơ thiên hạ
Dường như đầy ắp xuân
Lật thơ mình đọc lại
Đầy xót xa và buồn

Con bệnh cứ vật vã
Cắn răng chịu với đời
Vợ con nhìn cứ tưởng
Mình là đứa ham chơi

Ly rượu xuân đắng ngắt
Vẫn nâng chúc mừng nhau
Sống trọn hay không trọn
Càng nghĩ càng thấm đau

Bước cho đời mấy bước
Cho mình được bước nào
Chết trôi về mấy cõi?
Mà sống là chiêm bao !

Đầu năm không muốn khóc
Sao nước mắt chảy dài
Buồn vui thì vẫn vậy
Ai nào biết cho ai

Ngày xuân nghe cái lạnh
Thấm vào từng đốt xương
Phải trái tim khốn khổ
Nhịp đập đã thất thường !

Ngồi đọc thơ thiên hạ
Mưa rây nhẹ mái nhà
Dường như Xuân còn nuối
Những ngày đông đã xa.


2021

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

Bùi Giáng: 25 năm ngày mất




Lên mù sương xuống mù sương

Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu

Tuổi thơ em có buồn nhiều

Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua

Biển dâu sực tỉnh giang hà

Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay.

Bùi Giáng

-----

Ảnh thủ bút Bùi Giáng

Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

Thơ Hồ Ngạc Ngữ: DIỆU PHÁP LIÊN HOA




Rồi sẽ gửi chút tro tàn ở lại

Những cuộc đời như lá rụng chiều hôm

Mây vẫn bay, phương trời nào, bay mãi

Quê nhà xa, ngày đã vội hoàng hôn


Rồi sẽ nói với nhau lời đã muộn

Một đời người cũng chẳng có gì vui

Em có thấy bao nhiêu điều ước muốn

Hơi thở im, một thoáng, đã xa rồi


Thôi, hãy dọn lòng mình, thu xếp lại

Những ân tình rồi sẽ trả cho nhau

Như người trồng cây đợi chờ hoa trái

Như yêu thương đợi đến lúc bạc đầu


Rồi sẽ chuyển cuộc đời sang kiếp khác

Hạt giống bây giờ sẽ trổ mai sau

Không còn chỗ cho những gì được mất

Hương sen thơm từ bùn đất nhiệm màu


HỒ NGẠC NGỮ

21/09/2019

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

Vũ Duy Văn: TRIỀN SÔNG QUÊ

 


Ngày về thăm lại triền sông

Miên man gió thổi cánh đồng heo may

“Mẹ già như chuối chín cây”

Câu ca dao cũ lắt lay phận người

Cả đời vất vả ngược xuôi

Mẹ chừ ở chốn xa vời nghìn thu

Vành nôi đưa, vọng lời ru

Lạc trong ký ức, hoang vu cõi lòng

Con về ra đứng triền sông

Xót xa cải đã trổ ngồng mẹ ơi!

Hoa vàng xao xác chân trời

Gió đông khắc khoải, bời bời bến mê

Cải vàng níu giữ hồn quê

Xin đừng đánh mất, khiến tê tái lòng

Sông xưa chừ đã thay dòng

Bến xưa đã lở, trĩu lòng người đi

Ai còn nặng gánh sân si

Giữa lo toan, kiếm tìm chi nợ đời

Thương sao tình mẹ cao vời

Cù lao chín chữ, biển trời mênh mông...

Chiều nay về lại triền sông

Lặng nghe gió rít... Người không thấy về


Đà Nẵng, tháng Bảy-2021

Vũ Duy Văn

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Lê Hồng Phúc: GÁNH HỒNG NHAN...



Chợ phiên mẹ gánh gió đông

Chắt chiu đem đổi nắng hồng nuôi con

Liêu xiêu bóng mẹ đường mòn

Thúng đời một gánh, thúng con một gồng.


Cánh cò lạc giữa cơn giông

Bàn chân mẹ lạc khắp đồng lúa xanh

Nắng hè rám bưởi trên cành

Nắng đời rám cả tóc xanh bốn mùa.


Mưa dầm làm khế thêm chua

Mưa đời làm mẹ già nua mỗi ngày

Mẹ thời như ớt trên cây

Lặng thầm xanh vỏ mà cay trong lòng.


Vai gầy gánh cả bão giông

Gom thành tiếng hát ru nồng canh thâu

Thúng nào mẹ gánh cơ cầu

Thúng nào mẹ gánh bể dâu cuộc đời.


Thúng nào gánh nước mắt rơi

Thúng nào gánh trọn những lời thế gian

Chợ đời gánh mảnh trăng tàn

Thúng ơi mẹ gánh hồng nhan riêng mình.


Tác giả: Lê Hồng Phúc

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2023

Hòa Văn: CÒN CHÚT...



Còn chút vui đem chia với nhé

Bạn bè ơi thương nhớ mấy người

Câu chúc cũ đượm màu gần gũi

Mở cửa ra... chung đụng cùng đời!


Còn mấy thứ tưởng chừng hư ảo

Ồ mà không thực cả đấy mà!

Em vội vã mang hồn ngây dại

Ôm hôn nhau trên đỉnh dương tà


Bữa gặp ấy vui hay buồn vậy?

Sông đôi bờ dồn dập sóng xô

Bến cũ in bóng hình ta đẹp

Thương cỏ hoa còn biết xuyến xao!.


Hòa Văn

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2022

Tưởng người Gò Nổi làm thơ: Nguyễn Giúp


 TẠM BIỆT THI SĨ NGUYỄN GIÚP

 (1961 - 31/7/2022) có tư liệu ghi sinh năm 1959

Đất Phù Sa trôi theo sông

Còn lưu chút bụi tươi hồng thế thôi!

HÒA VĂN 

Tưởng Người Phù Kỳ - Gò Nổi!

31/7/22

Nguyễn Giúp sinh quán Điện Phong, Phù Kỳ - Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam. 

Sống và dạy học tại Đại Lộc, Quảng Nam.


TÔI & SÔNG


Ngược sông Thu

Chào những ban mai

Chào những chiều tà

Có tôi quay về chốn cũ

Bãi bồi quê cha quê mẹ

Xanh non lúa non dâu

Mỏng mảnh nỗi niềm sông từng hồi thức

Khuôn mặt người quen chảy dài mùa màng

Đêm quê họ mỏi lòng nguồn cội

Tre cong đời tre gửi vào đất đai khúc chiết

Lục tung nỗi nhớ nhà lại gặp sắn khoai lận đận

Nửa đời không giấc mơ buổi trăng

Làm sao như con bê vàng ngây ngô bú mẹ

Làm sao bẻ thân lau mà cờ

Cho tôi trắng cơn khát

Cho tôi đói

Cho tôi quay về không một mảnh

Cho tôi ngấm tôi mà lột cả

Sông ơi! Cắm cây sào xuống đáy

Cát sỏi xì xào

Cầm vào đây thật chặt cho tôi buộc con thuyền người dưng

Bên kia đồng dế non ngậm gió

Bờ kêu một thớ trăng vuông

Đất ơi! Nước ơi! Mái đình rêu

Người ơi! Câu hát xưa nương dâu

Tình yêu mở ra đất đai cày lật

Ta từng ấy tha phương đành lỗi quê nhà

Chiêm Sơn chiều quay khung tơ

Xuân thì trổ ngực em có về

Ra đồng mần… quản chi áo rách

Quay xuống mà cạn sông

Chắp hai tay lên ngực lạy với lòng Quảng Nam

U u trăm năm ngàn năm cỏ dựng

Anh hùng cọ núi xương khô

Mới hay da thịt mẹ cha

Mới hay Kim Tích vào quê kiểng

Một nấm mồ vôi phủ cỏ voi

Một ngụm nước đầy nhổ sào

Thả trôi…

Tôi & sông thành biển.


NGUYỄN GIÚP


TÔI & ĐẤT


Một lát cuốc chôn nhau thai vào đất

Ký thác ngày mẹ tôi đẻ ra tôi

Mặt trời màu đỏ tôi chưa nhìn thấy nhưng chắc chắn nó rất lớn và bao trùm

Ngập ngụa nắng tôi như cây cầu dang đôi chân hạn hán

Những bước đi khác gì nhau mà số phận

Tôi bội bạc mép vườn nhà cú kêu

Mặc cát sỏi níu cây sào cắm phặp

Tôi vẫy tay thiên di


Đứt ruột vườn nhà phân heo phân bò

Buổi giêng hai chưa ngậm

Lúa chưa kịp mẩy đòng bọc thai

Chỉ rét mỏng tràn khe bật thức hướng nhìn cỏ dậy

Tôi từ đây đất khách quê người!


Tạ lỗi sinh thành cho con đổi giọng

Chối bỏ lưng trâu và bọc tất mười đầu ngón chân mang khai

Tôi dọc ngang đất nước mình thấy đâu cũng đẹp như chiều

Miệng lưỡi giàu lên hơn chín tháng mười ngày thai nghén

Tôi lột tôi xưa bỏ chợ

Tôi sinh tôi lẫn tránh tôi suốt đời bạt xứ


Những tối buồn soi gương bắt gặp thằng giang hồ đầu hói

Tôi nhận ra tôi xưa nhiều nét giống

Ảnh ảo trong kia cười hô hố nghe rất quen mà không quen

Hắn đã già hắn phải chết

Huyệt mộ mai sau hắn có về nằm cạnh

Dự cảm nơi chôn nhau

Một lát cuốc đã buồn như mọi chiều râm kính

Đất cứ âm âm lần sinh hạ

Cha tôi nín thở… cười.


NGUYỄN GIÚP