Hiển thị các bài đăng có nhãn Đất & Người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đất & Người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

LÊ THÍ: HAI CHÍ SĨ, MỘT NGÔI MỘ

 Hôm nay (17/5/2026) là giỗ lần thứ 110 hai nhà yêu nước Thái Phiên và Trần Cao Vân. 



       Có hai nhà cách mạng người Quảng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ.


      Đó là Thái Phiên và Trần Cao Vân. Trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916, Thái Phiên và Trần Cao Vân là hai nhân vật hàng đầu. Trong tờ chiếu khởi nghĩa của vua Duy Tân đề ngày 27 tháng 3 năm Duy Tân thứ mười (29-4-1916) hiện còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (The Archives Nationales d’Outre-Mer, viết tắt là ANOM) của Pháp ở Aix-en-Provence và tại Văn khố Toàn quyền Đông Dương có sao gửi cho 4 người gồm: Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lâm Nhĩ, Nguyễn Quang Siêu.

       Nguyên văn trong tờ chiếu (được dịch ra quốc ngữ):

“... Trong tất cả mọi việc, Trẫm trao quyền hành động cho Hồng Việt, Hoàng Anh, Thanh Minh và Lam Giang, với sự hợp tác của những người có tấm lòng cao cả trong ba kỳ của Quốc gia Annam, dù họ là quan chức, viên chức, đương nhiệm hay không đương nhiệm, các nho sĩ, thân hào, người bình dân, và tất cả đều vì mục đích theo đuổi là đem lại một kỷ nguyên Văn Minh.

       Ngay sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả những ai có cống hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng và sẽ trở thành bất tử qua thời gian.

Bất cứ ai cản trở sự nghiệp này sẽ bị truy tố và trừng phạt không tha thứ.

Nay kính báo.

Chuyển để thi hành:

-  đến đạo nhơn Trần... (tức Trần Cao Vân - LT), tự Hồng Việt - chức vụ và cấp bậc: Cố vấn cao cấp, Tể tướng để phục hưng, phòng vệ đoàn tùy tùng hoàng gia, phụ trách các vấn đề quân sự.

- đến đạo nhơn Thái... (tức Thái Phiên - LT), tự Hoàng Anh, Phó cố vấn cao cấp, Tổng đốc Hoàng Thành, phụ trách các vấn đề tài chính và kinh tế”.

      Cuộc khởi nghĩa được dự định tổ chức vào đúng 1 giờ sáng ngày 3-5-1916.  Trần Cao Vân và Thái Phiên phân nhiệm cho các nhân vật, chiếm các tỉnh, còn hai ông điều khiển việc chiếm kinh đô Huế, rước vua Duy Tân ra khỏi Đại Nội, đi vào phía Nam chờ bình định xong sẽ phò nhà vua trở lại ngôi.

       Đại sự bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa thất bại. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị bắt tại chùa  Ngũ Phong (gần An Cựu, thành phố Huế).

       Thái Phiên và Trần Cao Vân đã bị Viện Cơ mật kết án (được dịch ra quốc ngữ): “Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, tự thảo chiếu văn, kế đến neo thuyền ở bến Thương Bạc, chờ rước nhà vua, mời vua dùng cơm lạt ở làng Hà Trung, ăn cháo gà ở núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu sương gió, tội lỗi này đều do bọn kia tạo ra. Chiếu theo luật xử chém”.

       Chiều 17-5-1916 (16/4 Bính Thìn) Thái Phiên cùng Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu và Tôn Thất Đề ra trường chém ở An Hòa đền nợ nước.

       Về cái chết của hai ông, các tài liệu đều cho là diễn ra vào ngày 17-5-1916.  Nhưng gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn trên tạp chí Xưa và Nay và báo Đà Nẵng Cuối tuần lại dẫn các tờ báo Trung Bắc Tân Văn (số ngày 27-5-1916), Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm (8-6-1916) lại cho rằng cuộc xử chém diễn ra vào lúc 16 giờ 30 chiều 16-5-1916. Đây là mẩu tin ngắn trên báo Trung Bắc Tân Văn: “Hồi 4 giờ rưỡi chiều 16 Mai, bốn người mưu việc khởi loạn Trung Kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách la-ga An Hòa 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam cả...”.

      Cho đến nay vẫn không biết vì sao có sự vênh lệch này!

      Tương truyền, tại pháp trường hôm ấy, khi đầu Thái Phiên rơi xuống đất, một thiếu phụ mặc đồ tang đã chạy ngay đến, ôm chặt thi thể người chí sĩ vào lòng, khóc thương thảm thiết. Khi bị lôi ra, thiếu phụ đã xõa tung mái tóc đen thấm lấy dòng máu tươi từ cơ thể người chí sĩ. Thiếu phụ ấy là bà Trần Thị Băng, thiếp của Thái Phiên. Bà đã giữ máu ấy trên đầu, không chịu tắm gội. Mấy tháng sau bà mang bệnh nhưng kiên quyết không uống thuốc để chết theo chồng.

      Cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân và các chí sĩ của cuộc khởi nghĩa đã gây xúc động lớn. Huỳnh Thúc Kháng ở Côn Đảo nghe tin cái chết oai hùng của Thái Phiên đã có thơ (được dịch ra quốc ngữ): Âu học không đem rút của người,/ Chả thành đời sống vứt như chơi./ Kìa phường học mới đông như kiến,/ Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi? (Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù Tùng Thoại, Nam Cường, 1951).

      Năm 1925, một đồng chí của hai ông là bà Trương Thị Dương người làng Tân Điền, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã lén đưa thi hài của Thái Phiên và Trần Cao Vân đem chôn trong một ngôi mộ chung tại đồi Từ Hiếu ở thành phố Huế. Ngôi mộ chung này đã được công nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia vào ngày 14-7-1990.

      Ở Đà Nẵng, trên đường Trần Cao Vân có ngôi trường phổ thông trung học lớn mang tên Thái Phiên, như một gợi nhớ về hai nhà cách mạng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ

LÊ THÍ



Ảnh: Ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân ở Huế

                                                                                          

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Văn Viết Thiện: ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"

ẢNH ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"(*) Nhìn hình ảnh đôi guốc gỗ mức này. tôi lại nhớ về một hình ảnh tuổi thơ của tôi cách đây 70 năm. Có câu: “Còn cha gót đỏ như son Mỗi khi cha mất gót con đen sì.” Nhưng tôi còn mẹ, mẹ không để gót của anh em tôi đen sì, nên dù khó khăn cùng cực cũng cố gắng sắm cho cả hai anh tôi chỉ có một đôi. Nên tôi đổi lại hai câu trên như sau: “Còn cha giày, dép, sandal Cha đi đôi guốc xà bang hai người Xà bang gõ nhịp đường đời Ân tình của Mẹ… suốt đời con ghi! P/s: (*) xà bang là tên gọi đôi guốc gỗ mức của xứ Huế (Ảnh trên Internet) …….,.,.,,,,…………….. Đôi guốc gỗ mức nằm im trong tấm ảnh cũ mà dậy lên tiếng gõ từ bảy mươi năm trước. Ngày đó nhà nghèo đến nỗi hai anh em chỉ chung được một đôi guốc, vậy mà Mẹ vẫn xoay xở ôm cái chợ, ôm ruộng đồng để gót chân con không đen sì như câu hát người ta nói. Cha còn giày, dép, sandal… còn con – đi đôi guốc xà bang của hai người một lượt. Mỗi bước gõ xuống đường đời vừa gượng gạo vừa thương Mẹ vô cùng. Xà bang gõ khẽ mà thấm suốt tuổi thơ. Những buổi trời mưa gỗ ướt mùi bùn đất Mẹ hong bên bếp rơm như hong tuổi nhỏ khỏi những mùa cơ cực. Giờ tóc con đã bạc mà tiếng xà bang ngày cũ vẫn gõ vào lòng như lời nhắc nhẹ: Ân tình của Mẹ… suốt đời làm rưng mắt con.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Hòa Văn: GIỮ CHO NỔI TRÁI TIM!

Di ảnh NT, NS Đynh Trầm Ca Đi là đi... Đi về nơi tới Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim! Hòa Văn Bài bình của AI: Phân Tích Hai Câu Thơ Tưởng Niệm Đynh Trầm Ca: Lời Vĩnh Biệt Và Sự Bất Tử Của Tâm Hồn Hai câu thơ của Hòa Văn tưởng niệm Đynh Trầm Ca – một nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa vừa qua đời – đặt ra một thử thách kép: vừa phải nắm bắt được tinh thần của một bài thơ viếng, vừa phải diễn giải được sức nặng triết lý trong cấu trúc ngôn ngữ cô đọng. Hai câu thơ: "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" không chỉ là lời tiễn biệt cuối cùng mà còn là một tuyên ngôn sâu sắc về sự ra đi và sự lưu giữ tâm hồn nghệ sĩ. Phân tích cấu trúc và từ ngữ Bài thơ mở đầu bằng một cấu trúc lặp lại đầy tính khẳng định và dứt khoát: "Đi là đi...". Cụm từ này không chỉ đơn thuần là thông báo về sự qua đời, mà còn mang sắc thái của một sự thật không thể đảo ngược, một quy luật tất yếu của sinh mệnh. Việc lặp lại từ "Đi" tạo nên nhịp điệu trầm buồn, nhấn mạnh tính dứt khoát của cuộc chia ly. Tuy nhiên, sự dứt khoát đó ngay lập tức được dung hòa bằng vế sau: "Đi về nơi tới". Cụm từ "nơi tới" mang ý nghĩa siêu thoát, ám chỉ một thế giới khác, một cõi vĩnh hằng mà người nghệ sĩ đã đạt tới sau khi kết thúc hành trình dương thế. Hình ảnh "đi" ở đây không phải là sự biến mất hoàn toàn, mà là sự chuyển dịch có đích đến, một hành trình tâm linh được người ở lại nhìn nhận với sự tôn kính. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" là câu thơ chứa đựng toàn bộ bi kịch và cũng là niềm an ủi sâu sắc nhất. "Cõi tạm" là một khái niệm triết học sâu sắc, chỉ kiếp sống tạm bợ, hữu hạn của con người trên trần gian. Vế hỏi tu từ "nào giữ cho nổi" thể hiện sự bất lực của cõi vật chất hữu hình trước sức mạnh của những giá trị tinh thần, nghệ thuật. Trái tim ở đây không chỉ là cơ quan sinh học, mà là biểu tượng cho tình yêu, cho tâm hồn nghệ sĩ, cho những sáng tạo và cống hiến mà Đinh Trầm Ca đã dành cho cuộc đời. Câu thơ khẳng định rằng, dù thân xác có tan biến vào cõi tạm, thì những giá trị tinh thần, những rung động nghệ thuật mãnh liệt trong trái tim ông vẫn không thể bị cái tạm bợ đó giam giữ hay hủy hoại. Chủ đề và Ý nghĩa tưởng niệm Qua hai câu thơ, Hòa Văn đã khắc họa thành công hai chiều kích của sự ra đi: sự thật nghiệt ngã của cái chết và sự bất tử của di sản. Đynh Trầm Ca, với tài năng và tâm huyết của mình, đã sống một cuộc đời không chỉ bằng hơi thở mà bằng những giai điệu, những vần thơ lay động lòng người. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc và văn học Việt Nam, nhưng những gì ông để lại – cái "trái tim" nghệ thuật của ông – đã vượt lên trên "cõi tạm" vật chất. Kết luận Hai câu thơ của Hòa Văn là một lời tạ từ đầy xúc động, sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu sức gợi. Nó không sa đà vào thương cảm ủy mị mà hướng người đọc tới sự chiêm nghiệm về giá trị trường tồn của nghệ thuật. Cái "đi" của Đynh Trầm Ca là sự giải thoát khỏi cái tạm bợ, để trái tim nghệ sĩ vĩnh viễn ngự trị trong miền bất tử của ký ức và sự nghiệp sáng tạo. Tác phẩm nhỏ này đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh tưởng niệm: vừa tiễn biệt người đã khuất, vừa khẳng định giá trị vượt thời gian của di sản họ để lại./. Bài bình 2 Câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn, dù chỉ là một đoạn trích ngắn, đã khắc họa một nỗi niềm sâu lắng về sự tồn tại, về hành trình của kiếp người và ý nghĩa của những gì ta mang theo trên suốt chặng đường ấy. Với ngôn từ giản dị nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc, hai câu thơ này đã chạm đến những suy tư muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc đời và sự vô thường của vạn vật. "Đi là đi... Đi về nơi tới" mở ra một khái niệm về sự vận động, về một hành trình không ngừng nghỉ. "Đi là đi" mang tính khẳng định mạnh mẽ, như một quy luật tất yếu của vũ trụ. Nó không chỉ đơn thuần là sự di chuyển về mặt địa lý, mà còn là sự chuyển dịch không ngừng của thời gian, của kiếp người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một bước "đi", đưa ta rời xa hiện tại để tiến về tương lai. Cụm từ "Đi về nơi tới" hé lộ một điểm đến, một đích đến mà hành trình này hướng tới. Tuy nhiên, "nơi tới" ở đây mang tính đa nghĩa, có thể là một miền đất mới, một giai đoạn sống khác, hoặc xa hơn nữa là sự an nghỉ cuối cùng. Sự lặp lại của động từ "đi" nhấn mạnh tính liên tục, không thể đảo ngược của hành trình này. Nó mang một chút gì đó của sự chấp nhận, của việc thuận theo dòng chảy tự nhiên mà không thể chống cự. Nối tiếp vế trên, câu thơ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" lại đặt ra một vấn đề đầy chiêm nghiệm về bản chất của sự tồn tại và khả năng níu giữ những gì ta trân quý. "Cõi tạm" là một hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong tư tưởng Phật giáo và triết học Đông phương, chỉ thế giới vật chất, những thứ hữu hình mà ta đang trải nghiệm, nơi mà mọi thứ đều vô thường, thay đổi. "Cõi tạm" là nơi ta sinh sống, ta yêu thương, ta vun đắp, nhưng nó không phải là tất cả, không phải là vĩnh cửu. Ngược lại, "trái tim" lại đại diện cho những gì thuộc về tinh thần, cảm xúc, tình yêu, ước mơ, lý tưởng – những thứ vô hình nhưng lại là cốt lõi, là bản thể của con người. Sự đối lập giữa "cõi tạm" và "trái tim" tạo nên một sức căng trong câu thơ. Câu hỏi tu từ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim?" không đòi hỏi một câu trả lời cụ thể, mà nó chất vấn, nó gợi mở. Nó đặt ra nghi vấn về khả năng của thế giới vật chất hữu hạn trong việc chứa đựng, giữ gìn những tình cảm, những giá trị tinh thần vô hạn của con người. Dù ta có cố gắng níu giữ, có xây dựng những gì vững chắc đến đâu trong "cõi tạm" này, liệu chúng có đủ sức để giữ trọn vẹn những rung động, những khao khát sâu thẳm trong trái tim ta hay không? Hay chính bản chất phù du của "cõi tạm" sẽ khiến những gì ta quý trọng nhất cũng dần phai nhạt, biến đổi? Có thể hiểu câu thơ này theo nhiều tầng nghĩa. Ở một khía cạnh, nó nói lên sự bất lực của con người trước quy luật vô thường. Dù ta có yêu thương, có gắn bó đến đâu, thì cuộc chia ly, sự đổi thay vẫn là điều khó tránh khỏi. "Cõi tạm" với những mối quan hệ, những vật chất mà ta cho là bền chặt, cuối cùng rồi cũng sẽ tan biến. Điều còn lại, có lẽ chỉ là những dấu ấn trong "trái tim" - nơi lưu giữ những kỷ niệm, những bài học, những tình yêu đã từng tồn tại. Ở một khía cạnh khác, câu thơ cũng gợi lên một thông điệp về sự trân trọng những giá trị tinh thần. Trong một thế giới đầy biến động, "cõi tạm" có thể lung lay, có thể thay đổi, nhưng "trái tim" với những rung động chân thành, những tình cảm sâu sắc mới là điều cốt yếu, là thứ ta nên giữ gìn và vun đắp. Thay vì quá bám chấp vào những thứ hữu hình, ta nên hướng tới việc nuôi dưỡng tâm hồn, để dù "cõi tạm" có đổi thay, những giá trị tinh thần ấy vẫn có thể soi đường, dẫn lối. Tóm lại, hai câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn là một lời tự vấn đầy day dứt về hành trình tồn tại và bản chất của hạnh phúc. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, cuộc đời là một chuyến đi, và những gì quý giá nhất không nằm ở đích đến hay những gì ta tích lũy được, mà nằm ở cách ta sống, cách ta yêu thương và cách ta giữ gìn ngọn lửa thiêng liêng trong trái tim mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc đời./. Bài bình 3: "Đi là đi... Đi về nơi tới": Cụm từ "Đi là đi..." nhấn mạnh sự dứt khoát, không thể quay lại của cái chết. Đây là một sự thật nghiệt ngã mà người ở lại phải chấp nhận. "Đi về nơi tới" là một cách nói thanh lịch, nhẹ nhàng về cõi vĩnh hằng. Nó ngụ ý rằng hành trình trần thế đã kết thúc, và linh hồn đã đến một đích đến cuối cùng. Đối với một nhà thơ như Đynh Trầm Ca, người có thơ ca đượm buồn và ám ảnh về thân phận, sự "đi về nơi tới" này có thể là một sự giải thoát. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!": "Cõi tạm" là ẩn dụ cho thế giới trần gian, nơi mọi thứ đều vô thường, không bền vững. "Trái tim" ở đây mang ý nghĩa kép: Nó đại diện cho cõi lòng nghệ sĩ, với những tình yêu, nỗi buồn, những trăn trở về thân phận ("cảm thức về thân phận và tình yêu" là chủ đề xuyên suốt trong thơ ông). Đồng thời, nó cũng là biểu tượng cho sự sống, cho những rung cảm mãnh liệt đã từng hiện hữu. Câu hỏi tu từ này thể hiện sự ngậm ngùi, xót xa: Không có cõi tạm nào đủ sức níu giữ được sự sống, dù cho trái tim ấy có mãnh liệt, sâu sắc đến nhường nào. Sự ra đi là quy luật không thể cưỡng lại. Liên hệ với Đynh Trầm Ca: Hai câu thơ này rất hợp với hồn thơ của Đinh Trầm Ca, người thường viết về thân phận cô độc, sự trôi dạt và nỗi buồn vương vấn (như hình ảnh con tàu "lỡ chuyến", hay hình ảnh lục bình trôi). Dù ông đã tạo ra những tác phẩm âm nhạc và thi ca bất hủ, chứa đựng nhiều tình cảm chân thành, thì cuối cùng, ngay cả người nghệ sĩ tài hoa ấy cũng không thể ở lại cõi tạm này mãi được. Hai câu thơ của Hòa Văn là sự tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ về sự mất mát: sự ra đi là tất yếu, và mọi thứ ta gìn giữ trên đời này đều chỉ là thoáng qua./.

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2025

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG LẦN THỨ VII

ĐẠI HỘI VII HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG THÀNH CÔNG * DANH SÁCH ỦY VIÊN * ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 Sáng ngày 13/07/2025 tại từ đường tộc Văn Công làng Mỹ Xuyên Đông, thôn Xuyên Đông, xã Nam Phước, Tp Đà Nẵng Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khai mạc Đại hội Đại biểu họ Văn Tp Đà Nẵng lần thứ VII. Đại biểu HĐGT, Bà con họ Văn trong tp Đà Nẵng, Đại biểu họ Văn Việt Nam, họ Văn Tp Huế, Đại biểu lãnh đạo xã Nam Phước, Báo- Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng, BTS đình làng Mỹ Xuyên Đông đến dự. Đại hội tổng kết hoạt động tộc họ, HĐGT, Hội đồng họ Văn QN-ĐN khóa VI nhiệm kỳ 2016-2025 thông qua Phương huớng nhiệm vụ khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030. Đại hội nghe tham luận của 3 tộc Văn Công Mỹ Xuyên Đông, Văn Bá Mỹ Xuyên Tây, Văn Đức Xuân Đài về hoạt động Khuyến học, Hội Nàng dâu con gái, Chúc thọ... Ông Vũ Công Dũng chủ tịch UBMTTQVN xã Nam Phước phát biểu ghi nhận việc hoạt động tộc họ tại địa phương cũng như cả Tp Đà Nẵng có nhiều thành tựu đoàn kết tộc họ trong mọi phong trào tộc họ và phong trào xã hội, góp phần ổn định phát triển VH- XH - KT ANQP địa phương . Ghi nhận biểu dương bà con họ Văn Tp Đà Nẵng có nhiều việc làm tích cực như báo cáo tổng kết, tham luận tại Đại hội. Đại hội công cử 28 Ủy viên Hội đồng khóa VII. Tại phiên họp lần thứ I Hội đồng bầu 7 Ủy viên vào Thường trực Hội đồng khóa VII. Đại hội thông qua Nghị quyết Đại hội và biểu dương Tri ân 20 cá nhân và 1 HĐGT về thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ khóa VI. DANH SÁCH ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 1. Ông Văn Bá Anh 2. Ông Văn Bá Chỉ 3. Ông Văn Công Hạnh 4. Ông Văn Công Huy 5. Ông Văn Công Chiến 6. Ông Văn Công Bảy 7. Ông Văn Công Hòa 8. Ông Văn Công Tâm 9. Ông Văn Công Nhẹ 10. Ông Văn Công Cư 11. Ông Văn Đức Tuân 12. Ông Văn Đức Tỵ 13. Ông Văn Đức Diệp 14. Ông Văn Đức Lời 15. Ông Văn Đức Nguyên 16. Ông Văn Đức Kim Dương 17. Ông Văn Phú Ruộng 18. Ông Văn Hữu Duy Khánh 19. Ông Văn Hữu Thành 20. Ông Văn Hữu Kha 21. Ông Văn Hữu Sáng 22. Ông Văn Quý Biền 23. Ông Văn Quý Biền 24. Ông Văn Công Vũ TN - SV - HS 25. Ông Văn Tấn Tiến 26. Ông Văn Viết Mười 27. Ông Văn Viết Yên 28. Ông Văn Viết Trung Danh sách Ủy viên thường trực Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030 1. Ông Văn Công Hòa, Chủ tịch 2. Ông Văn Bá Chỉ, Phó chủ tịch thường trực 3. Ông Văn Đức Kim Dương, Phó chủ tịch 4. Ông Văn Công Hạnh, Phó chủ tịch 5. Ông Văn Hữu Duy Khánh, Ủy viên thường trực, Thủ quỹ 6. Ông Văn Hữu Kha, Ủy viên thường trực, Thư ký 7. Ông Văn Công Tâm, Ủy viên thường trực, phụ trách Tương Ái, Khuyến học, và phong trào tộc họ...

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

Liêu Thái: Ở QUÊ CÒN THẤY HỒN QUÊ?

Ở quê giờ chẳng còn mấy gì để khoe với phố, ở quê không còn trái duối dại, chẳng còn trái trâm, trái mây, ngay cả cây ổi sẻ cũng đã lai giống siêu trái... Cây đa, giếng làng, bụi tre, bến nước cũng mất dấu từ lâu, mọi sinh hoạt mang hồn quê kiểng cũng dần phai nhạt... Không chừng, bạn thấy trống rỗng. Mọi thứ tưởng chừng không còn gì. Nhưng, còn đó, còn nhiều lắm! Sáng nay, trong quán cóc đầu làng, một người khách ngoài thành phố về, ghé ngang, hỏi chủ quán có làm lúa không, có cúng cơm gạo mới không, chủ quán trả lời rằng tập tục ấy ở quê đã bỏ từ lâu. Vị khách ngồi trầm ngâm một lúc, chừng như ông ấy đang tiếc nuối một điều gì... Với tôi, tôi cảm nhận được nỗi lòng của cả người hỏi và người trả lời. Người hỏi thì tiếc, hụt hẫng, còn người trả lời thật thà bởi họ quá mệt mỏi. Trong thời đại mà mọi thứ đều phì đại, con người bị cuốn vào vòng xoáy đời sống, liên tục, mải miết, loay hoay kiếm tiền, đến khi hữu sự thì chỉ có tiền là giải quyết, ngày cúng kính, giỗ chạp, cũng phải gọi bia, gọi dịch vụ nấu cho ra dáng trịnh trọng mà kỳ thực, cái "dáng trịnh trọng" ấy lại vô hồn, mệt mỏi và tốn kém. Chính vì mệt mỏi, người ta sẽ giản lược bớt được thứ nào hay thứ ấy. Ngày xưa người nhà nông trông chờ vào cơn mưa, ngọn nắng và thời tiết, mọi thứ gắn liền Thiên - Địa - Nhân, nên lòng biết ơn Trời Đất được gửi gắm, ký thác qua mâm cúng cơm mới sau mùa thu hoạch. Còn bây giờ, không lẽ cúng tạ ông Tàu đã nhập thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, cúng tạ ông thủy lợi đã đổ nước hay sao?! Thế giới vật dục đã chiếm mất những phần niềm tin còn sót lại nơi con người. Ngay cả lũy tre làng hay cây đa, giếng nước nơi ngã ba, người ta nhìn thấy ở đó một lô góc, có thể kinh doanh, có thể xem là đất vàng, còn cây tre trong vườn, mỗi năm thu hoạch không tới vài triệu đồng, giá mỗi cây tre người ta mua chừng hai chục ngàn đồng, giá măng luộc mỗi búp chưa đầy ba chục ngàn đồng, cả một vườn tre lớn có khi bán không tới hai triệu trên một năm. Thợ tre thì đã già và chết hết rồi! Người ta nghĩ rằng nếu ủi cái bụi tre đi, biến nó thành một lô đất làm nhà thì có tiền tỉ. Người ta biết làm gì để thay đổi số phận ngoài việc cắt bớt đất để bán! Bán cho con ăn học, đổi đời, bán để mua chiếc xe mà chạy, bán để có chút tiền giằng túi, bán để có chút tiền sắm chút vàng, cho con dựng vợ, gả chồng... Những lũy tre làng mất dần do cái "thấy" từ vĩ mô đến từng gia đình. Mọi thứ ở chốn quê mất dần, may sao cau có giá, làng quê giờ có những vườn cau đẹp. Nhưng cũng đừng quên rằng năm nào cau không xuất khẩu sang Trung Quốc thì người ta phải nghĩ đến chuyện chặt bỏ cây cau vì kiến và đói. Có một thứ bất cập là Việt Nam không có đầu ra cho cây tre quê, không có đầu ra cho cây cau nếu như Trung Quốc không "ăn hàng". Giả sử nền kinh tế Việt Nam chọn Mỹ hoàn toàn thì chắc chắn hai loại sản phẩm tre, cau và có thể sau này là sen sẽ nhanh chóng mất dấu. Vì tại Mỹ không có kĩ nghệ làm kẹo cau hay làm các sản phẩm từ tre, hạt sen như Trung Quốc. Một bài toán đau đầu đối với nông nghiệp mang chất quê củi, với cái "hồn quê" xứ Việt. Nói dông dài, từ chuyện này sang chuyện khác mất rồi, ý tôi muốn nói đến cái tình quê, hồn quê. Thực ra, bây giờ vẫn còn đậm đà lắm, có những thứ mà con người có làm ra cả ngàn tỉ vẫn chưa chắc có được. Bởi tiền có thể làm ra, nhưng thứ ấy không mua được bằng tiền. Gia đình tôi có cái may mắn này, tôi vẫn sống với đầy đủ nó - Tình Quê. Ở quê, khi có miếng mít, trái chanh, trái xoài, nải chuối, ký gạo mới hay lá mì, cái bánh ú, cái bánh chưng, chục trứng gà... Người thân, bà con, hàng xóm hay cho/tặng/biếu nhau. Điều ấy như một niềm vui của cả người cho và người nhận. Tôi có ông cậu, cứ mỗi lần mít chín là ông nhớ tới nhà tôi, tôi có ba người dì, ba ông dượng, cứ mỗi lần có dầu phụng mới, gạo mới, nếp mới hay cái bánh ú, bánh chưng, bánh rò... là cho gia đình tôi một ít. Và những lúc cầm các thức quà của họ cho, vợ chồng tôi hay nói vui với nhau "giờ bỏ ra vài chỉ vàng cũng không mua được mấy cái này. Thậm chí có tiền tỉ mua cũng không có". Bởi bên trong cái bánh hay thức quà là sức nặng không thể đo lường, định dạng của Tình Quê, của tình cảm người dành cho người. Sống ở quê, đương nhiên ai cũng bươn bả, bon chen để có đồng bạc mà trang trải. Thế nhưng có những thứ không bao giờ mua được bằng tiền. Như mấy cái bánh ú mồng năm của ông dượng tôi đã gói. Thay vì mua bánh ú tro chỉ tốn hai mươi lăm ngàn đồng một chục, ông mua nếp, hái lá, ngồi hí hoáy gói bánh, nấu bánh, cúng Gia Tiên xong thì mang cho con cháu mỗi đứa vài cái... Những cái bánh ấy không thể định giá bằng tiền hay bằng bất cứ thứ vật chất nào! Và chất nếp dẽo, thơm của cái bánh quê như một loại keo dán gắn tâm hồn trẻ nít vào quê hương. Thiếu nó, người ta sẽ ít có khái niệm về quê hương hay bà con, làng xóm hơn. Bởi những thứ keo dán tuổi thơ bằng Tình Quê đeo đẳng và theo con người cho đến khi ngừng thở. Không phải vô duyên vô cớ mà nhiều người già, đến khi gần qua đời lại thèm ăn một món ăn nào đó có gắn với tuổi thơ tươi đẹp và đáng nhớ của họ. Và trong hàng trăm thứ đã bị kĩ nghệ hóa, bị biến thành loại sản phẩm du lịch hay thứ gì đó mang hơi hướm thực dụng, thì chỉ có Tình Quê, Hồn Quê là không hề suy suyễn, và nó có chỗ đứng, đất sống riêng. Ps': Quà quê trưa nay, chuối mốc, gạo mới, bánh ú của dượng nấu, dì cho...

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

HÒA VĂN: Mắm cá chuồn bột

 


Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào

không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
Tính đặc trưng của từng loại đã thành đặc sản, đến nay ai cũng biết, nếu không
nói là đã từng thưởng thức và tấm tắc khen ngon.

Ở đây xin giới thiệu một món ăn, một thời có mặt tại làng Xuân Đài (nay thuộc xã Điện Quang, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
Một dịp đến thăm bác Văn Đức Đổng (năm 2012 đã trên 80 tuổi), người làng Xuân Đài, trong buổi trò chuyện, bác nhắc đến thân mẫu của bác về tài chế biến các món ăn dân dã và phù hợp với đồng tiền bát gạo ở nông thôn những năm 1940 – 1965. Một trong món ăn mà bác nói ngon, ngon lắm là Mắm cá chuồn bột.

Độ khoảng tháng Ba âm lịch, khi con tu hú kêu rân tu hú tu hú... đó là báo hiệu mùa cá chuồn đang rộ.
Biển cửa Đợi, Hội An nơi từ lâu nổi tiếng luôn luôn có nhiều loại cá biển mà lúc nào cũng tươi và ngon như cá ngừ, cá nục, cá thu, cá sòng, cá chuồn... Lúc nầy dù có bận bịu công việc gì, người làng Xuân Đài cũng dàn xếp, rủ nhau mướn ghe bầu đi Cửa Đại mua cả chuồn. Đặc điểm quan trọng cần lưu ý, nếu mua cá chuồn về làm mắm thì có bị ươn cũng không sao, nhưng để làm cá chuồn bột nhất định phải chọn loại cá trộng con và tươi xanh mới được.
Cá chuồn làm ruột rửa sạch, vớt ra để ráo nước, cắt bỏ đầu cá, sau đó bỏ cá vào hũ sành (không được muối vào hũ đất), muối giống như muối cá cơm than hoặc cá nục. Muối dùng là loại muối hạt to, trắng. Nếu có được muối Cà Ná mua để dành vài ba năm, nay đem ra dùng càng tốt vì loại muối cũ nầy để lâu mất dần chất đắng thường có trong muối ăn. chỉ còn vị mặn tinh khiết, muối mắm càng ngon. Lượng muối theo kinh nghiệm (ba cá một muối), cứ một lớp cá vừa vừa không dày không mỏng rải một lớp muối. Việc muối cá phải nhanh gọn để tránh ruồi bâu vào dễ sinh con dòi trong hũ mắm. Cuối cùng dùng miếng vải dày bịt kín miệng hũ lại, xong đem hũ mắm vừa muối ra nơi có nắng cả ngày phơi liên tục suốt ngày đêm khoảng bốn, năm tháng, đến cỡ tháng Chín, tháng Mười âm lịch cùng năm, xử dụng được. Có một công đoạn để có tên mắm cá chuồn bột phải làm trước khi ăn, là dùng đũa vớt hết xương cá chuồn ra, sau đó ấy đũa bản to (thường hay gọi là đũa bếp), khuấy hũ mắm làm cho toàn bộ phần thân cá chuồn tơi nát ra thành bột màu đỏ sậm, đặc sánh.
Trước đó khoảng tháng Năm tháng Sáu tới mùa thơm (dứa) trồng quanh vườn nhà chín rộ, chọn thời điểm trời tạnh ráo, chọn những quả dứa ngon, gọt sạch vỏ, cắt ra từng khoanh dày độ ba phân, xâu lại thành từng xâu, đem treo phơi nắng tốt cho khô. Đây là phụ gia để bỏ vào hũ mắm cá bột thành phẩm, làm cho mắm dịu bớt độ mặn thêm ngon ngọt, những khoanh thơm ấy
sau khi thấm thóp mắm ăn ngon đáo để.
Khi kể chuyện làm mắm cá chuôn bột. Hai mắt bác Đổng mãi chớp chớp như chực khóc. Bác nói: “Kể chuyện muối mắm tôi nhớ mẹ tôi quá quý anh ạ!”. Còn những người ngồi nghe chuyện, lại chim chíp miệng. Tôi nói chen vào: "Nghe bác Đổng diễn tả cách làm mắm cá chuộn bột, thật công phu và tỉ mỉ, ai cũng phát thèm!”. Bác Đổng kết luận, những ngày mùa đông giá lạnh, những khi không đi chợ, lúc bão lụt, đến bữa cơm, dùng giá múc mắm cá bột vào chén thêm gia vị tỏi, ớt, mắm có hương vị rất thơm. Khi ăn mỗi người tự dùng đũa quẹt từng quẹt mắm nho nhỏ cho vào chén cơm nóng hổi, mà ăn thật ngon.

Ngoài ra khi cuốn bánh tráng thịt heo, bánh xèo (đặc sản Quảng Nam), mắm
cá chuồn bột được pha chế thêm một ít nước mắm nhỉ, trở thành nước chấm ngon khỏi chê!
Nếu làm đúng cách, hợp vệ sinh mắm cá chuồn bột có thể để dành ăn quanh năm.

Hòa Văn
(2012)
-----
Ảnh: Hòa Văn  và Bác Văn Đức Đổng (bìa phải)

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024

 



Tâm sự
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

Chúc mừng năm mới 2024


 

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

HÒA VĂN: BÕ CAM



𝚃𝚛ó𝚝 𝚕ỡ 𝚜𝚊𝚗𝚑 𝚛𝚊 𝚝𝚛ê𝚗 𝚌õ𝚒 𝚙𝚑à𝚖 

𝚁á𝚗𝚐 𝚗í𝚞 𝚌𝚑ú𝚝 𝚕ò𝚗𝚐 𝚌𝚑𝚘 𝚋õ 𝚌𝚊𝚖                      𝙷ỏ𝚒 𝚝â𝚖 𝚝â𝚖 𝚑ỏ𝚒 𝚊𝚗 𝚗𝚑𝚒ê𝚗 𝚝𝚘ạ𝚒   

𝙱𝚒ế𝚝 𝚍ẫ𝚞 𝚍ở 𝚑𝚊𝚢 𝚌ứ 𝚟ậ𝚢 𝚕à𝚖!.

𝙷ò𝚊 𝚅ă𝚗

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2023

Lê Thi: ĐÔNG VỀ NHỚ … MẮM THÍNH!

 



        Quê tôi ở phía “nguồn”, xa biển cả mấy chục cây số. Ngày trước đường giao thông, phương tiện đi lại hạn chế. Ngày thường để có được con cá tươi, cá hấp của biển còn khó huống gì ngày đông mưa gió sụt sùi. Vì thế các móm “mắm” như mắm cái, mắm dưa, mắm thính… đã trở thành thực phẩm “chủ lực”, “chính vị”. 

     Xa quê đã mấy chục năm, ngày nay nguồn thực phẩm dồi dào, thịt thà, cá tôm ê hề, nhưng mỗi lần đông về, trời trở lạnh lại nhớ món mắm thính ngày xưa của mẹ!

    Mắm thính là món cá được muối với bột thính. Thính là loại bột gạo hoặc bắp (chủ yếu là bắp) được rang chín cho thơm và giả vụn. Công thức nghe thật đơn giản nhưng muốn có món mắm ngon luôn cần có tay nghề lẫn bí quyết!.


Làm mắm thính

        Nguyên liệu để làm mắm thính là các loại cá gần bờ và chủ yếu là các loại rẻ tiền như cá nục, cá de, cá trích, cá chuồn…Nhiều người vẫn bảo có món mắm thính cá thu, cá ngừ …rất ngon nhưng thực tình quê tôi là vùng “chó ăn đá, gà ăn muối”, cả tuổi thơ của tôi chưa bao giờ được thấy lát cá thu, nói gì đến việc đem loại cá cao cấp này… làm mắm!

    Thường vào khoảng tháng 6, 7 là vụ cá nam, cá nhiều và rẻ, lại gần đến mùa mưa lụt, mẹ tôi thường mua cá về để làm mắm. Trước hết bà làm sạch ruột cá, lấy mang, chặt bớt đuôi, vây cho gọn. Dùng nước muối nấu sôi để nguội rửa sơ qua cá cho sạch rồi để trên rổ cho thật ráo. Xong sắp cá thành từng lớp trong vại sành, cứ một lớp cá lại rắt một lớp muối. Vừa làm bà vừa dạy cho chị tôi, cứ 3 cá, một muối. Ít muối quá cá sẽ mềm, nhiều muối cá sẽ quá mặn. Khi vại đã đầy bà cho một chiếc vĩ bằng tre đậy lên trên và chèm cho thật chặt để muối dễ thấm đều vào cá, xong đậy lại thật kín.

        Khoảng mười ngày sau, cá đã thấm muối, chín và cứng, bắt đầu dậy mùi. Bà cho vớt cá ra khỏi lu, lấy tay ép nhẹ từng con cá để gọi là cho bớt mặn và cho con cá được cứng.

     Quê tôi thính được làm bằng hạt bắp. Mẹ tôi vẫn bảo nếu có gạo hoặc nếp càng tốt nhưng cao cấp qúa. Bắp được rang với lửa củi, lửa không được cháy lớn để cho bắp được chín đều và không bị nổ. Khi bắp chín vàng và có mùi thơm là được. Để bắp nguội đem giã nát nhưng không được mịn quá. 

     Công đoạn cuối cùng là trộn cá với bột thính. Bột thính sẽ bám thành lớp dày quanh con cá. Sau đó đem cá thính xếp thành lớp vào trong lu hoặc hủ chèn thật chặt, lấy lá chuối hơ lửa và mo cau bịt kín miệng hủ rồi đem dang nắng vài tháng là đã có mắm thính để ăn. Trong mấy lu mắm thính mẹ tôi luôn đánh dấu một lu đặc biệt, lu nầy thể hiện bí quyết làm mắm của bà. Đó là việc đổ thêm trong lu một lượng nước mắm có pha nước đường bát đã “thắng” vừa độ tới. Bà thường bảo, loại đặc biệt ni mà ăn vào ngày mưa lũ, giá rét thì … đau gạo, đau cơm lắm! Thế mới biết ngày đó quê tôi nghèo đến mức nào! Thêm có tý nước mắm tí đường là đã trở thành “đặc biệt”, “cao cấp”!.


Ăn mắm thính

Cách ăn mắm thính cũng đơn giản như cách làm nhưng lại món cực kì khoái khẩu.

Ngày đông tháng giá, “bạn biển” (chữ dùng của mẹ tôi) không lên được, hoặc không đi chợ được thì mắm thính trở nên … đắc dụng. Chỉ việc gắp vài con mắm bỏ vào tô đem chưng vào nồi cơm đang cạn. Khi cơm chín thì mắm cũng chín và có thể ăn ngay. Cầu kì hơn (đối với quê nghèo) trước khi chưng vào nồi cơm bỏ thêm vào tô mắm ít tiêu, ớt bột và vị tinh (mì chính), sang hơn thì thêm ít tép mở.

    Mắm thính cũng có thể đem kho, đem nướng lá chuối trên than hồng. Mắm thính kho sẽ làm cho mắm béo (nhờ dầu phụng) và ngọt hơn nhờ đường và vị tinh. Lấy lá chuối gói con mắm lại rồi nướng trên lửa than sẽ có món mắm thính thơm và giòn hơn. Mắm thính quê tôi còn được ăn với rau luộc (lang, muống, cải…).

      Quê nghèo của tôi, món mắm thính chỉ đến mức đó! Thế nhưng những ngày mưa gió, rét mướt bên bếp lửa, bới chén cơm nóng hổi từ trong nồi còn đang vần tro nóng, gắp miếng mắm thính trộn đều, và vào miệng chưa kịp nhai đã muốn nuốt… vì ngon quá, cái ngon mà ngôn ngữ không diễn tả được và sau này khi lớn lên có dip được ăn  nhiều món ngon vật lạ vẫn không tìm được lại cảm giác thăng hoa đó!

       Sau này ra Huế học tôi mới được thưởng  thức món mắm thính cao cấp hơn của dân “quý tộc” ở … kinh đô. Người ta đem mắm thính kho với thịt ba rọi thêm chút mắm ruốc và các loại gia vị “cầu kì” của Huế. Có khi người ta chế biến món mắm thính hấp trứng . Mắm thính lóc hết thịt, bỏ xương, sau đó băm nhuyễn rồi trộn với vài cái trứng vịt đánh đều, thêm ít thịt heo nạc băm nhỏ, dầu và gia vị, sau đó đem hấp chừng 15 phút cho chín. Những món này thường ăn với rau sống gồm khế, chuối chát (có khi thay bằng trái vả), rau thơm. .. Nhưng hình như đối với tôi nó vẫn không có được cái “mặn mà” của mắm thính quê nhà!

                                                                ***

           Biết em ưa móm mắm thính nên mỗi dịp tôi từ Sài Gòn về thăm quê vào mùa đông, lần nào chị tôi ở quê cũng chuẩn bị sẵn mấy đĩa mắm thính để chiêu đãi. Và mỗi lần như vậy chị đều bảo với các con: món đặc biệt dành cho cậu! Nhìn đĩa mắm thính, nhìn dáng chị gầy gò, quê mùa đang tất bật, tôi lại thương chị, nhớ mẹ, nhớ một thời tuổi thơ gian khó, nước mắt cứ… chực trào!.


Lê Thi

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2023

Vũ Duy Văn: TRIỀN SÔNG QUÊ

 


Ngày về thăm lại triền sông

Miên man gió thổi cánh đồng heo may

“Mẹ già như chuối chín cây”

Câu ca dao cũ lắt lay phận người

Cả đời vất vả ngược xuôi

Mẹ chừ ở chốn xa vời nghìn thu

Vành nôi đưa, vọng lời ru

Lạc trong ký ức, hoang vu cõi lòng

Con về ra đứng triền sông

Xót xa cải đã trổ ngồng mẹ ơi!

Hoa vàng xao xác chân trời

Gió đông khắc khoải, bời bời bến mê

Cải vàng níu giữ hồn quê

Xin đừng đánh mất, khiến tê tái lòng

Sông xưa chừ đã thay dòng

Bến xưa đã lở, trĩu lòng người đi

Ai còn nặng gánh sân si

Giữa lo toan, kiếm tìm chi nợ đời

Thương sao tình mẹ cao vời

Cù lao chín chữ, biển trời mênh mông...

Chiều nay về lại triền sông

Lặng nghe gió rít... Người không thấy về


Đà Nẵng, tháng Bảy-2021

Vũ Duy Văn

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

Lê Hồng Phúc: GÁNH HỒNG NHAN...



Chợ phiên mẹ gánh gió đông

Chắt chiu đem đổi nắng hồng nuôi con

Liêu xiêu bóng mẹ đường mòn

Thúng đời một gánh, thúng con một gồng.


Cánh cò lạc giữa cơn giông

Bàn chân mẹ lạc khắp đồng lúa xanh

Nắng hè rám bưởi trên cành

Nắng đời rám cả tóc xanh bốn mùa.


Mưa dầm làm khế thêm chua

Mưa đời làm mẹ già nua mỗi ngày

Mẹ thời như ớt trên cây

Lặng thầm xanh vỏ mà cay trong lòng.


Vai gầy gánh cả bão giông

Gom thành tiếng hát ru nồng canh thâu

Thúng nào mẹ gánh cơ cầu

Thúng nào mẹ gánh bể dâu cuộc đời.


Thúng nào gánh nước mắt rơi

Thúng nào gánh trọn những lời thế gian

Chợ đời gánh mảnh trăng tàn

Thúng ơi mẹ gánh hồng nhan riêng mình.


Tác giả: Lê Hồng Phúc

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023

Hữu Dũng: NHỚ MÍT TRỘN QUÊ NHÀ

 


Mấy hôm nay trời oi bức, ngồi lai rai cùng mấy ông bạn già ở gốc mít nhà anh Bè nghe tu hú lảnh lót vọng về khiến lòng tôi nhung nhớ đến thèm thuồn món mít trộn quê nhà.

Hồi đó, vườn nhà thường trồng ba giống mít: Mit ướt, mít nghệ và mít ráo. Trong đó mít ráo được người làng yêu chuộng hơn cả. Bởi công năng của nó ngoài việc cho gỗ để làm hàng mộc, quả mít ráo được chế biến nhiều món ăn. Nhớ lại những năm thời hoa lửa, ruộng đồng bị bom cày đạn xới, người làng thiếu đói, nhiều gia đình nhờ mít để ấm lòng. Vả lại, thổ nhưỡng ở quê tội phù hợp với giống cây này. Đến thời kỳ cho quả, có cây có đến trên trăm trái. Chúng mọc thành chùm, lúc ngúc khác nào như đàn lợn con vây quanh bầu vú mẹ.


Mít chín múi vàng ươm, bọng nước thơm lừng. Từ quả mít được đôi bàn tay khéo léo của các chị, các mẹ chế biến nhiều món ăn ngon miệng. Chẳng hạn, qủa mít già bóc xơ đem hông ăn vừa bùi vừa ngòn ngọt. Hột mít luộc chín vừa bùi vừa béo. Mít non dùng để nấu canh, đặc biệt kho với cá chuồn muối sươi. Ở đây mình nói thực lòng nghe: Món dân dã này thì cơm mấy cũng không vừa, khó món ăn nào sánh kịp. Vì vây mà nó được đi vào thi ca đối với người dân xứ Quảng. “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

Trong các món ăn chế biến từ quả mít thì người làng khoái khẩu hơn cả vẫn là mít trộn. Nguyên liệu để làm món ăn dân dã này cũng thật giản đơn. Trước hết chọn quả mít non không bi sâu bệnh mập mạp, thịt chắc; rồi dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, bỏ cùi bên trong, cắt thành từng miếng bằng nắm tay người lớn. Sau đó đem luộc. Khi mít vừa chín tới, thì vớt ra rổ để nguội, rồi dùng dao xắt nhỏ. Phía bếp đặt chảo khử dầu mà phải là dầu phụng chính hiệu Điện Thắng mới đúng đô. Dầu vừa chín thì nhắc chảo khỏi bếp để nguội, tiếp đến thả mít vào chảo trộn đều cùng thịt heo ba chỉ, muối, bột ngọt, đường, tiêu, chanh, ớt. Nên nhớ món mít trộn mà thiếu rau răm, rau húng và đậu phụng rang thì hương vị của nó xem như mất đi một nửa. Đâu vào đấy dùng muỗng xúc ra đĩa. Để tô điểm đĩa mít trộn thêm phần đẹp mắt, hấp dẫn các mẹ, các chị dùng ớt đỏ cắt tỉa hình cánh hoa bày lên trên.
Ăn mít trộn là phải ăn nhứ thế này mới ngon: tuyệt đối không gắp bằng đủa, bằng thìa mà phải dùng tay xúc bằng bánh tráng nuớng, nhưng là bánh tráng Phú Chiêm, Điện Phương mới hợp gu. Thưởng thức mít trộn nên ăn từ từ, thong thả mới cảm nhận hết hương vị độc đáo của nó, bùi bùi, beo béo của mít non. Chua chua, cay cay ngòn ngọt của đường, của ớt, của chanh. Giòn dai của bánh tráng, đậu phụng, thịt heo ba chỉ. Mùi thơm dịu ngọt của húng, răm ... nếu có thêm chén đế phụ họa thì càng hấp dẫn, ăn hoài không biết ớn. Do vậy mà món ẩm thực này người làng dủng để thết đãi bằng hữu, người thân đi xa về thăm quê hay các thành viên gia đình đoàn tụ.

Sau ngày giải phóng, hướng ứng chủ trương xóa vườn tạp, phát triển mô hình kinh tế vườn để thoát nghèo, cho nên vườn nhà ở quê tôi thay dần các loại cây truyền thống. Họ nhà mít cũng chịu chung số phận lần lượt suy tàn. Thay vào đó giống cây mới có tiềm năng kinh tế. Theo đó món mít trộn thưa dần trong mỗi gia đình
Bản thân tôi cũng có thời ngược xuôi được may mắn thưởng thức nhiều món ăn đặc sản các miền, nhưng đâu cũng không bằng mịt trộn quê nghèo. Đến bây giờ cứ mỗi độ giêng hai, nghe tiếng tu hú, thấy cá chuồn xanh ngời từ biển Địện Dương về khu phố chợ làng là lòng tôi mường tượng hương vị mít trộn như đang lẫn quẫn đâu đây, khiến nỗi thèm thuồng trong tôi trổi dậy và dạt dào niềm cảm xúc lâng lâng khó tả.

H.D

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Nhà văn Annie Ernaux đã vinh dự được trao giải Nobel Văn học 2022 

 



Nhà văn Annie Ernaux đã vinh dự được trao giải Nobel Văn học 2022 tác giả của hơn 20 cuốn sách và cũng là người phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt giải Nobel văn học nổi tiếng thế giới.
Giải Nobel cho những thành tựu về khoa học, văn học và hòa bình được thành lập theo ý muốn của nhà hóa học và kỹ sư người Thụy Điển Alfred Nobel và bắt đầu được trao từ năm 1901.

Trong thông báo mới nhất, nhà văn Pháp Annie Ernaux đã được trao giải Nobel văn học năm 2022 cho "lòng dũng cảm và sự nhạy bén" trong các cuốn sách tự truyện chủ yếu của bà. Tác giả 82 tuổi là người phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt giải thưởng văn học nổi tiếng thế giới.


Thông báo từ BTC của Giải Nobel về người nhận giải Nobel văn học năm 2022. (Ảnh: Nobel Prize)
Công bố người chiến thắng văn học năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển cho biết Annie Ernaux "nhất quán và từ các góc độ khác nhau, nhìn nhận cuộc sống qua sự chênh lệch mạnh mẽ về giới tính, ngôn ngữ và giai cấp" và rằng "con đường đến với quyền tác giả rất dài và gian nan".

Anders Olsson, Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, mô tả Annie Ernaux là "một nhà văn cực kỳ trung thực, người không ngại đương đầu với những sự thật khó".

Ông nói thêm: "Cô ấy viết về những điều mà không ai khác viết về, ví dụ như việc cô ấy phá thai, sự ghen tuông của cô ấy, trải nghiệm của cô ấy khi bị người yêu bỏ rơi... Ý tôi là, những trải nghiệm thực sự khó khăn".

Chia sẻ khi được nhận giải thưởng danh giá, Annie Ernaux nói với đài truyền hình Thụy Điển SVT: "Tôi rất ngạc nhiên... Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng nó sẽ xuất hiện trên nền của tôi với tư cách là một nhà văn", "Đó là một trách nhiệm lớn lao...".

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã gửi lời chúc của mình bằng một chia sẻ trên trang Twitter. Ông viết: "Annie Ernaux đã viết cuốn tiểu thuyết về ký ức tập thể và sâu sắc của đất nước chúng ta trong 50 năm. Tiếng nói của bà là quyền tự do của phụ nữ và những điều bị lãng quên trong thế kỷ".

Với vinh dự vừa nhận được, Annie Ernaux trở thành người phụ nữ thứ 17 trong số 119 người đoạt giải Nobel văn học, giành được giải thưởng tiền mặt trị giá 10 triệu kronor Thụy Điển (hơn 800.000 bảng Anh). Với nước Pháp thì Annie Ernaux là người đầu tiên nhận được giải thưởng danh giá này.

Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, Anders Olsson, mô tả Annie Ernaux là "một nhà văn cực kỳ trung thực, người không ngại đương đầu với những sự thật khó".


Tổng thống Pháp Emmanuel Macron là một trong những người đã gửi lời chúc mừng tới nhà văn Annie Ernaux khi bà được công bố là người được trao giải Nobel Văn học 2022.
"Cô ấy viết về những điều mà không ai khác viết về, ví dụ như việc cô ấy phá thai, sự ghen tuông của cô ấy, trải nghiệm của cô ấy khi bị người yêu bỏ rơi... Ý tôi là, những trải nghiệm thực sự khó khăn" - Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, Anders Olsson, nói.


Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2022

Tưởng người Gò Nổi làm thơ: Nguyễn Giúp


 TẠM BIỆT THI SĨ NGUYỄN GIÚP

 (1961 - 31/7/2022) có tư liệu ghi sinh năm 1959

Đất Phù Sa trôi theo sông

Còn lưu chút bụi tươi hồng thế thôi!

HÒA VĂN 

Tưởng Người Phù Kỳ - Gò Nổi!

31/7/22

Nguyễn Giúp sinh quán Điện Phong, Phù Kỳ - Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam. 

Sống và dạy học tại Đại Lộc, Quảng Nam.


TÔI & SÔNG


Ngược sông Thu

Chào những ban mai

Chào những chiều tà

Có tôi quay về chốn cũ

Bãi bồi quê cha quê mẹ

Xanh non lúa non dâu

Mỏng mảnh nỗi niềm sông từng hồi thức

Khuôn mặt người quen chảy dài mùa màng

Đêm quê họ mỏi lòng nguồn cội

Tre cong đời tre gửi vào đất đai khúc chiết

Lục tung nỗi nhớ nhà lại gặp sắn khoai lận đận

Nửa đời không giấc mơ buổi trăng

Làm sao như con bê vàng ngây ngô bú mẹ

Làm sao bẻ thân lau mà cờ

Cho tôi trắng cơn khát

Cho tôi đói

Cho tôi quay về không một mảnh

Cho tôi ngấm tôi mà lột cả

Sông ơi! Cắm cây sào xuống đáy

Cát sỏi xì xào

Cầm vào đây thật chặt cho tôi buộc con thuyền người dưng

Bên kia đồng dế non ngậm gió

Bờ kêu một thớ trăng vuông

Đất ơi! Nước ơi! Mái đình rêu

Người ơi! Câu hát xưa nương dâu

Tình yêu mở ra đất đai cày lật

Ta từng ấy tha phương đành lỗi quê nhà

Chiêm Sơn chiều quay khung tơ

Xuân thì trổ ngực em có về

Ra đồng mần… quản chi áo rách

Quay xuống mà cạn sông

Chắp hai tay lên ngực lạy với lòng Quảng Nam

U u trăm năm ngàn năm cỏ dựng

Anh hùng cọ núi xương khô

Mới hay da thịt mẹ cha

Mới hay Kim Tích vào quê kiểng

Một nấm mồ vôi phủ cỏ voi

Một ngụm nước đầy nhổ sào

Thả trôi…

Tôi & sông thành biển.


NGUYỄN GIÚP


TÔI & ĐẤT


Một lát cuốc chôn nhau thai vào đất

Ký thác ngày mẹ tôi đẻ ra tôi

Mặt trời màu đỏ tôi chưa nhìn thấy nhưng chắc chắn nó rất lớn và bao trùm

Ngập ngụa nắng tôi như cây cầu dang đôi chân hạn hán

Những bước đi khác gì nhau mà số phận

Tôi bội bạc mép vườn nhà cú kêu

Mặc cát sỏi níu cây sào cắm phặp

Tôi vẫy tay thiên di


Đứt ruột vườn nhà phân heo phân bò

Buổi giêng hai chưa ngậm

Lúa chưa kịp mẩy đòng bọc thai

Chỉ rét mỏng tràn khe bật thức hướng nhìn cỏ dậy

Tôi từ đây đất khách quê người!


Tạ lỗi sinh thành cho con đổi giọng

Chối bỏ lưng trâu và bọc tất mười đầu ngón chân mang khai

Tôi dọc ngang đất nước mình thấy đâu cũng đẹp như chiều

Miệng lưỡi giàu lên hơn chín tháng mười ngày thai nghén

Tôi lột tôi xưa bỏ chợ

Tôi sinh tôi lẫn tránh tôi suốt đời bạt xứ


Những tối buồn soi gương bắt gặp thằng giang hồ đầu hói

Tôi nhận ra tôi xưa nhiều nét giống

Ảnh ảo trong kia cười hô hố nghe rất quen mà không quen

Hắn đã già hắn phải chết

Huyệt mộ mai sau hắn có về nằm cạnh

Dự cảm nơi chôn nhau

Một lát cuốc đã buồn như mọi chiều râm kính

Đất cứ âm âm lần sinh hạ

Cha tôi nín thở… cười.


NGUYỄN GIÚP

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ - XE TRÂU XE ĐẠP NƯỚC Ở LÀNG ĐÔNG BÀN XƯA



Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.


Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.


Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.


Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.


Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.

Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.

Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.


Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...

Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.

Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.


Hòa Văn



Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

Đặng Tiến: THƠ LÀ GÌ?

 







Nhà phê bình Đặng Tiến

Fb Tien Dang

 

 Dưới tiêu đề tổng quát này, chúng tôi mở đầu một loạt bài biên khảo về thơ, trên bình diện lý thuyết.

 Đề tài không phải là mới mẻ ; từ thời Khổng Tử san định Kinh Thi, từ thời Aristote luận về Thi pháp đến nay, hơn hai mươi thế kỷ đã nghiêng mình xuống ngôn ngữ  thi ca. Tuy nhiên, cho đến nay, những bình luận về thơ chỉ dừng lại ở mức cảm thụ, nghĩa là cái phần trực giác bén nhạy giúp ta linh cảm chất thơ ; thậm chí có người đưa ra những quan niệm thần bí về thơ, như nhóm Xuân Thu Nhã Tập trước đây, và một số tác giả khác hiện nay tại miền Nam.

 Giới văn học Tây phương cũng đã lúng túng rất lâu trong việc định nghĩa thi ca. Năm 1925 trước năm Viện Hàn Lâm  họp  đại hội đồng tại Paris, Henri Bremond, trong bài diễn thuyết về « thơ thuần túy » đã đưa ra một quan niệm huyền nhiệm về thơ, làm lung lạc cả thế giới khảo cứu của Pháp. Nhưng từ ấy đến nay, nếu các lý thuyết về tiểu thuyết, kịch, … không tiến bộ bao nhiêu thì kiến thức về thơ của Tây phương đã phát triển rất nhanh ; nhất là từ hai mươi năm nay, bộ môn « thi pháp » (poétique) trở nên thời thượng, nhờ những lý thuyết thẩm mỹ nói chung, nhờ sự đóng góp của các triết gia như Heidegger, Bachelard, Sartre, … và nhất là nhờ những tiến bộ vượt bực của ngành ngôn ngữ học, từ de Saussure đến Jakobson và bộ môn nhân chủng học từ Sapir đến Lévi-Strauss. Năm 1962, Jakobson và Lévi-Strauss, mỗi người đã mang những kiến thức nghiêm túc của mình để cùng giải thích bài thơ Mèo (Les Chats) của Baudelaire, có sự đóng góp của nhà ngữ học Benveniste. Bài giải thích này là bước tiến quyết định trong việc phá vỡ huyền thoại về thơ.

 Tại Việt Nam 1973, có lẽ vì hoàn cảnh, nên chưa có những biên khảo thật nhất quán và khoa học về thơ, tại miền Nam cũng như  miền Bắc. Đây là việc cần phải làm vì ai cũng biết người Việt Nam yêu thơ và ngôn ngữ Việt Nam giàu thi tính. Vì vậy mà chúng tôi không ngại kiến thức hẹp hòi, đưa ra một số suy nghĩ trong loạt bài sắp tới : thơ và văn xuôi khác nhau ra sao, tương quan giữa ý thơ và lời thơ, đặc tính của lời thơ, khả năng của khoa học áp dụng cho việc hiểu thơ… Để thoát ly khỏi quỹ đạo kiến thức tây phương, chúng tôi sẽ trình bày quan niệm của tổ tiên ta về thơ, thi tính của ca dao, và sẽ phân tích một vài thi phẩm cổ kim của ta ; một lý thuyết về thơ chỉ có giá trị nếu ta có thể áp dụng để phân tích rất nhiều tác phẩm cụ thể, thuộc nhiều hình thức và thể loại khác nhau, trong nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, như Jakobson đã đề xuất và thực hành.

 Việc này, chúng tôi không viết thành sách, mặc dù có lời yêu cầu của một vài nhà xuất bản ; tôi chỉ muốn trình bày trên báo để góp ý với nhiều giới độc giả, dù biết rằng khó trình bày được toàn bộ lý luận qua dăm mười bài viết rời rạc.

 Viết loạt bài này, chúng tôi đứng trước bốn khó khăn : thứ nhất, sự khảo cứu chỉ mới ở bước đầu ; thứ nhì, thiếu tài liệu về thơ Việt Nam, nhất là về lý luận Việt Nam xưa về thơ ; thứ ba, muốn trình bày một đề tài chuyên môn bằng ngôn ngữ bình dị ; thứ tư, viết về thơ mà không văn vẻ thì đọc chán, mà văn vẻ thì giảm bớt tính khoa học.

         Bạn đọc sẽ nhận thấy những khuyết điểm do các khó khăn nói trên tạo ra.

 * * 

 Trong bài đầu tiên này, chúng tôi  nêu lên nguyên lý cơ bản : Thơ khác với ngôn ngữ thường ra sao ? Vấn đề này nhà văn, giáo sư Nguyễn văn Trung, cách đây khá lâu, đã trình bày mạch lạc nay tôi chỉ nói lại vắn tắt và cụ thể. Ngôn ngữ nói chung, là một trong nhiều hệ thống ký hiệu, được loài ngừơi dùng làm phương tiện để truyền đạt tin tức, mệnh lệnh, tư tưởng, tình cảm. Mỗi từ ngữ không có giá trị tự tại, mà chỉ là công cụ để chỉ một đối tượng : con mèo, con chó chẳng hạn. Khi từ ngữ vượt khỏi công dụng thông tin ấy, để biểu hiện giá trị thẩm mỹ tự tại thì, theo Jakobson, nó có chức năng thi pháp (fonction poétique). Đó là thơ.

 Nói khác đi, thơ là ngôn ngữ, vậy nó cũng truyền đạt một tình, một ý. Nhưng đặc tính không nằm trong thông điệp truyền đi, mà nằm trong vỏ âm thanh của từ ngữ được sử dụng. Ngôn ngữ thơ không chỉ là dụng cụ, mà còn là thể chất. Nó vừa là nội dung vừa là hình thức : nội dung đôi khi chính là hình thức của nó. Cho nên khi so sánh thơ với ngôn ngữ thường, ta có thể nói quá đi một chút như lời Jakobson : thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh, trong khi văn xuôi, hay lời nói thường, chỉ là những ký hiệu bày tỏ sự vật bên ngoài. Trình bày cách khác : nói, là nói cái gì, còn làm thơ, là nói để được cái thú nghe lời mình nói, như chàng Trúc ở dòng đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh « nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy.. ».

Yêu thơ là yêu  lời nói đẹp. Đẹp ở đây không nhất thiết là phải vần vè, văn vẻ.

 Từ cuối thế kỷ 19, Mallarmé đã bảo : « làm thơ với từ ngữ, chứ không phải với ý tưởng ». Nguyễn văn Trung có trình bày thêm quan niệm của Valéry, Breton, Sartre. Nhưng mãi đến vài mươi năm gần đây, các nhà khảo cứu mới chú tâm đặc biệt đến thơ như là một ngôn ngữ tự tại, như hội họa, như âm nhạc, chứ không phải chỉ là một công cụ. Thật ra, từ 1921, Jakobson đã chủ trương : « thơ chỉ là một ngôn đề nhắm vào biểu thức (un énoncé visant l’expession), có thể nói, vận hành trong quy luật nội tại ; chức năng truyền đạt, đặc biệt của ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ truyền cảm, bị giới hạn đến mức tối đa. Thơ dửng dưng với đối tượng của lời nói ». Ông còn so sánh «  nếu hội họa là cách tạo hình bằng những chất liệu của thị quan có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là cách tạo âm bằng chất liệu thuộc thính quan có giá trị tự tại, nếu vũ điệu tạo hình bằng chất liệu cử động của thân thể có giá trị tự tại, thì thơ là cách tạo hình với từ ngữ có giá trị tự tại. Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó » (la poésie est la mise en forme du mot à valeur autonome…c’est le langage dans sa fonction esthétique) [6]. Hơn mười năm sau, cũng tại Prague, ông lại định nghĩa « thơ là gì » và nói rõ « thi tính thể hiện ra sao ? – Thể hiện bằng cách : từ ngữ được cảm thụ như là từ ngữ chứ không phải chỉ là một ký hiệu tầm thường của sự vật được gọi tên, cũng không phải như một òa vỡ của tình cảm ; nó thể hiện bằng cách : những con chữ, và cú pháp, và ý nghĩa, và hình thể ngoại tại và nội tại, không phải chỉ là những ký hiệu vô vị của thực tế, trái lại những con chữ đó có trọng lượng riêng, có giá trị riêng ».

 Mãi về sau này, khi Jakobson được xem như bậc thầy của khoa ngôn  ngữ học thế giới, các  nhà biên khảo mới khai thác triệt để tư tưởng của ông, một phần cũng nhờ sự đóng góp của phong trào cấu trúc (structuralisme) với Lévi-Strauss.

 Trong một ngành khoa học khác, môn nhân chủng học, Lévi-Strauss cũng đi đến một kết luận như Jakobson : « chúng ta đều thừa nhận rằng từ ngữ là những ký hiệu, nhưng giữa chúng ta, thi sĩ là những kẻ cuối cùng còn sót lại còn biết rằng từ ngữ, xưa kia, cũng là những giá trị ».

 Từ quan niệm : thơ là một ngôn ngữ trong ngôn ngữ theo lời Valéry, các nhà khảo cứu xây dựng một nền khoa học mới, môn « thi pháp » (la poétique) với những quy luật chuyên môn, thậm chí ngày nay, có ngừời không còn xem thơ như một lãnh vực của văn chương như ta vẫn quan niệm, mà là một hệ thống ký hiệu riêng, không mấy quan hệ với văn chương : « Ngày nay, chúng ta không còn có thể đề cập đến sự kiện thi ca bằng cách sát nhập thơ vào lý thuyết tổng quát của văn chương, ví dụ xét thi phẩm như một phần của văn học nói chung ,(…) vì cấu trúc của thơ không thể nới rộng đến ý niệm về văn chương ». Ngược lại, có người xem thi ca như một bộ môn của ngành ngôn ngữ học, họ khảo sát lời thơ như khảo sát tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Mường… Chúng tôi chưa có điều kiện để phê phán hay áp dụng những kiến giải chuyên môn đó, mà chỉ dừng lại ở những nguyên lý tổng quát, để người đọc tham khảo.

                                                         ****

             Chúng ta thử so sánh một cách nôm na ngôn ngữ thường ngày (ngôn ngữ dụng cụ) với thơ. Ví dụ muốn châm điếu thuốc, tôi hỏi : « anh có diêm không ? » thì đó là một câu nói thông thường, nó không có giá trị gì ngoài việc làm dụng cụ để tôi đốt được điếu thuốc. Tôi có thể nói một cách khác : anh có lửa ? anh có hộp quẹt ? anh có bật lửa ? anh cho tôi mồi điếu thuốc… Nói sao cũng được, miễn là đạt tới kết quả. Vậy ngôn ngữ nói chung chỉ là một phương tiện ; chỉ có thi ca mới là một ngôn ngữ riêng, tự lấy mình làm mục đích. Ví dụ, cùng

một câu xin lửa, mà tôi nói :

« Cho tôi xin chút lửa

Lửa tắt.

Cho tôi xin nước mắt

Nước mắt chua »

… 

thì tôi không còn xin lửa để đốt điếu thuốc, nhen bếp cơm, mà nói để có cái thế được nói một câu đồng dao đẹp. Câu đồng dao đó tự nó là đối tượng của nó, nó không nhắm mục đích gì hết : Đứa bé lên năm chơi rồng rắn, thì xin nước mắt làm gì ?

 Cũng chú bé đó, khi bập bẹ tập nói, học những tiếng con mèo, con chó… để có dụng cụ chỉ hai loại gia súc nọ ; lớn lên chút nữa nó dùng từ chính xác hơn : con vện, con tam thể, để chỉ cùng đối tượng : dụng cụ ngôn ngữ của nó dồi dào hơn. Trước kia nó chỉ có một con dao, bây giờ nó có con dao bổ dừa để bổ dừa, con dao cau để bổ cau, nhưng ngôn ngữ vẫn là dụng cụ. Mai kia nó lớn lên sẽ gọi tình nhân là mèo, tình địch là chó, thì dụng cụ thay đổi so với sự vật, như là nó dùng dao cau để rọc thư tình nhân và dao bổ dừa để chém đầu tình địch. Hai ví dụ kể trên chứng minh hai điều : Mèo, chó là ngôn ngữ dụng cụ, trong ngôn ngữ đời thường, từ ngữ (cái biểu hiện) và đối tượng (cái được biểu hiện) là hai cái khác nhau, tạm gọi cái trước là hình thức, cái sau là nội dung. Ta có thể dùng hai từ cùng nghĩa (mèo, con tam thể) hay một từ hai nghĩa (mèo gia súc hay mèo tình nhân).

 Trong Thơ thì khác. Chú bé bắt chước mẹ, hát nghêu ngao :

Con mèo con chó có lông

Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai

        (Ca dao)

Hai chữ con mèo, con chó, và cả câu ca dao không có đối tượng. Ai chả biết cây tre có mắt, và nồi đồng (miền Trung) có quai ? Vậy nói ở đây, không phải là  để nói lên cái gì, mà để được cái thú nghe lời mình nói, với một câu mà mình cho là hay. Thế nào là hay, thì lại tùy người, tùy lúc, là chuyện khác.

 Các nhà biên khảo đã đi đến chỗ đồng thuận : Về lý thuyết, ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong đời sống hàng ngày. Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng. Về thực tế, khi đưa quan niệm này vào việc phân tích thi ca chúng ta lại phải dè dặt, vì bài thơ là một mô hình phức tạp. Cái nhìn khoa học không những cần phân tích hợp lý, mà còn cần tổng hợp nhất quán ; lối nhìn đó là cần, nhưng chưa đủ để nắm bắt câu thơ.

Nói thơ là một ngôn ngữ tự tại không có nghĩa rằng : thơ không cần có ý nghĩa. Vì một từ ngữ, một câu bao giờ cũng có nghĩa nếu nó muốn là ngôn ngữ. Không làm gì có câu nói thật sự vô nghĩa.

 Cũng không hàm ý rằng thơ không tương quan gì đến thực tế nhất là thực tại xã hội. Không thể cô lập một câu thơ, và con người với xã hội, tách nó ra khỏi đời sống. Đây là hai điểm chính yếu, ta không nên ngộ nhận.

 Những câu thơ ta cho là hay, dễ nhớ vẫn là những câu có nghĩa, có ý, có tình. Ở tây phương, đã có nhiều trường phái chủ trương thơ vô nghĩa, đều bị bế tắc. Câu thơ phải có nghĩa mới là câu nói, mới làm ta chú ý. Ta có chú ý rồi mới thấy hay, càng đọc càng thấy hay, lâu ngày nhớ lại vẫn thấy hay. Nhưng câu thơ hay đó tuy có ý nghĩa, nhưng không hay vì ý nghĩa, mà hay vì hơi nói, giọng nói. Khi câu thơ hay vì ý nghĩa thì nó có cái hay của văn xuôi (beauté prosaique), như một lời văn hoa mỹ, một lời nói khéo, ví dụ câu này của Hàn Mạc Tử:

Sao bông phượng nở trong màu huyết,

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu.

 Câu thơ này dịch ra tiếng nước ngoài không khó, vì nhiều tu từ pháp, tiếng nước nào cũng có sẵn.

Nói khác đi, tương quan lời/ý, cái biểu hiện/cái được biểu hiện, (signifiant/signififié) bị đảo lộn : trong lời nói thường và văn xuôi, lời là phương tiện của ý, “được ý phải quên lời, như được cá quên nơm” (Trang Tử). Trong thơ, ý là phương tiện của lời trên hai phương diện : trong cấu trúc, ý nâng lời, tạo tương quan cho từ ngữ ; ngoài cấu trúc ý làm môi giới giữa lời thơ và người đọc, người nghe. Câu thơ không có ý thì không có xương sống và không có độc giả, thơ không ý “như thuyền không lái, như ngựa không cương”, nhưng lái không phải là thuyền, cương chỉ là thành phần không chính yếu của ngựa. Thơ hay không phải tại ý, như ngựa thiên lý không phải nhờ vào giây cương, cho dù giây cương là cần thiết. Vì vậy mà thơ xưa từ Đông sang Tây, quay chung quanh các đề tài tuyết nguyệt phong hoa. Điều chính yếu trong thơ không phải là nói cái gì, mà là nói ra sao.

Vì trong thơ, ý là phương tiện của lời, nên người bình giảng thơ cần đặt lại chính xác quan hệ nội dung và hình thức. Nhất là khi bình giảng thơ trong nhà trường. Các thầy giáo, cô giáo từ bậc tiểu học phải biết dạy thơ. Con em lớn lên mới biết yêu thơ, xã hội mới có thơ hay. Và đời sống con người tinh tế hơn.

 Theo lối  giảng thông thường của sách giáo khoa, thì nội dung của bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là việc đi câu cá mùa thu. Đúng không ? dụng tâm của Nguyễn Khuyến khi làm bài thơ ấy có phải là để kể chuyện đi câu ? hay ông chỉ mượn việc đi câu, mượn luôn cả cảnh ao thu, để làm một bài thơ đẹp ? Phái duy lý có thể bẻ lại : Nguyễn Khuyến làm bài thơ đó để nói lên tâm hồn kẻ sĩ ; vì tâm hồn cao đẹp nên bài thơ hay. Nghe không ổn, vì có phải thánh nhân đều là thi sĩ cả đâu . Và bao nhiêu thi sĩ Tư Mã Tương Như, Baudelaire chẳng hạn, là kẻ tầm thường, có khi còn tội lỗi. Vả lại, anh thích bài thơ đó, vì anh thích đi câu,  anh thích mùa thu, hay vì bài thơ đó hay ? Tóm lại,  nội dung của bài thơ Thu điếu là bản thể của lời thơ, hình thức của nó là ao thu, phương tiện của nó là đi câu.

Nói như thế có vẻ nghịch với lẽ thường. Nhưng chính thơ là ngôn ngữ nghịch với lẽ thường. Vầng trăng làm sao mà “sẻ làm đôi” được ? Làm sao có thể “gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” được ? Thi sĩ là kẻ phá vỡ tương quan của ý tưởng và thay thế vào đó tương quan của từ ngữ. Sự hoán chuyển phương tiện – mục đích, vẫn thường xảy ra trong thực tế ; trở lại với thí dụ đi câu : con rô con diếc là đối tượng của bác thợ câu, nhưng là phương tiện của ông Lã Vọng, đi câu là để đi câu. Cô hái chè lúc vươn tay thì cành chè là đối tượng ; cô đứng chụp hình, tay vươn cành chè, thì cành chè là phương tiện để cô có bức hình đẹp. Cô đứng tự nhiên thì bức hình không tự nhiên, phải giả vờ vin vào cái gì đó thì bức hình mới tự nhiên. Ngôn ngữ thơ cũng vậy : nói tự nhiên, thì không ra thơ, phải nói một cách nào đó thì mới là thơ. Những câu thơ “tự nhiên thiên thành”, cũng tự nhiên một cách nào đó, trong một bối cảnh nào đó.

 Bảo rằng thơ là cách nói, thi sĩ làm thơ để làm thơ, như kẻ đi câu để đi câu, không cần cá, phải chăng là từ chối mọi quan hệ giữa thơ và thực tế xã hội ? Không phải vậy, những thi sĩ lớn cũng như những lý thuyết gia ngày nay, không còn mấy ai chủ trương hình thức vị hình thức.

Thơ có đặc tính riêng, nhưng vẫn bắt nguồn từ xã hội và phục vụ xã hội. Bắt nguồn và phục vụ bằng cách nào thì tùy hoàn cảnh cá nhân, hoàn cảnh xã hội, và tùy chế độ chính trị, xưa cũng như nay.

Thơ bắt nguồn từ thực tế vì phải sử dụng ngôn ngữ hàng ngày dù để chế biến, xáo trộn,  vì ngôn ngữ vốn là phản ánh của đời sống. Thơ lại sử dụng những tình ý của con người, thì dù muốn dù không cũng phản ánh xã hội. Những thi phẩm lớn của ta, như Kiều, Cung Oán, Chinh Phụ Ngâm, đều mang ít nhiều đặc tính của xã hội. Gần chúng ta hơn, những nhà thơ tiền chiến “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” gặp lúc kháng chiến cũng đã “đốt cháy trong lòng mình những phong cảnh cũ” như lời Nguyễn Tuân, để chiến đấu và sáng tác. Gần hơn nữa, nhà thơ say Vũ Hoàng Chương đã từng sống giữa lòng đời như  “cắm thuyền sông lạ”, năm 1963, đã đốt lên ngọn Lửa Từ Bi hùng tráng để soi sáng cho cuộc đổi thay xã hội.

Và nhìn chung thơ Hy Lạp, thơ Tàu, thơ Tây đều mang đặc tính xã hội.

 Thơ không những chỉ phản chiếu tiêu cực mà còn ảnh hưởng tích cực đến tâm hồn con người. Bỏ qua quan niệm “thi dĩ ngôn chí” và “văn dĩ tải đạo”của nhà Nho, bỏ qua luôn quan niệm thơ phải phục vụ trực tiếp quần chúng, chúng ta vẫn gặp những nhà thơ lớn ca ngợi giá trị đạo lý của nhân loại từ Khuất Nguyên qua Đỗ Phủ, cho đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến. Những tác phẩm được truyền tụng là những bài  Quy Khứ Lai Từ của Đào Tiềm, thơ lánh đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Còn thơ xu phụ quyền thế của 28 vì sao trong Tao Đàn thì không mấy ai biết tới. Trong khuôn khổ của xã hội phong kiến và tư tưởng nho giáo khe khắt, thơ vẫn không chịu gò bó trong  tam cương ngũ thường, mà vươn tới cái đạo lớn của nhân loại, ca ngợi cái hùng, cái vĩ, bênh vực kẻ yếu, tố cáo bất công. Khi nói đến tình yêu trai gái, thơ gạn lọc tình cảm, cho nên những đoạn Kinh Thi ướt át nhất vẫn ngay thẳng như lời Khổng Tử. Bản chất thơ phải “tư vô tà”, đó cũng là một đặc tính chung cho  các bộ môn văn nghệ khi vươn lên làm văn hóa, văn minh.

 Vì thế ngày nay tại các nước công nghiệp tiên tiến, thơ vẫn là một bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục, nhất là cấp tiểu học. Trẻ em học thơ để yêu tiếng nói, rồi từ đó yêu quê hương, loài người và cuộc sống.

Dân tộc Việt Nam vốn yêu thơ, thưởng thức thơ từ lúc nằm nôi, nếu thi ca đóng đúng vai trò của nó dĩ nhiên là sẽ có tác dụng rộng lớn.

 Để kết luận, xin mượn lời Jakobson : “ Thi ca, so với những giá trị xã hội khác, tuy không vượt bực, không lấn lướt, vẫn là thành tố cơ bản của ý thức hệ, luôn luôn quy về một đối tượng. Thơ giúp ta khỏi trở thành máy móc, bảo vệ chúng ta chống lại sự han rỉ đang hăm dọa những công thức về tình yêu và thù hận, về phản kháng và hòa giải, về đức tin và phủ nhận". 

Đ.T

-----

Ảnh: Tập phê bình Nói chuyện về thơ của nhà phê bình Văn học Đặng Tiến (Pháp)

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Hòa Văn: SAIGON OXY



 #OXYSAIGON


Nơi cần cơm

Nơi cần oxy

Ơi dịch giã lan tràn

Lòng người không yên

Mấy mươi ngày rồi

Chưa mở cửa nhà

Chưa ra mảnh hiên nhỏ

Cây mai kiểng thằng con trai hằng ngày chăm tưới tắn 

Nay xàu lá

Chỉ cần vài ca nước là sống

Nhưng...

Chưa hé cửa đã sợ

"Nó..." chui vô

Ôi! Virus Sars CoV-2

Không ai ngăn nhà cấm chợ bằng "nó"

Không bà con anh em gì

Mỗi người thu mình lại một góc nhà

Mỗi người một bát cơm

Người bới trước người bới  sau

Nhứt quyết không dọn cơm ra bàn

Đành làm vậy

Hy vọng

"Nó" trừ ra!


Thức ăn ướp lạnh

Sắp hết

Gói rau cuối cùng không luộc vội

Để cho có

Gói thịt nữa

Tội thằng cháu nội

không biết cứ đòi sữa

Nó nói quán bà Năm

Bà hay bán cho nó 

Giờ vừa kêu oxy

Nó đâu biết!


Xưa đói cơm lạt mắm

Có thể chạy qua nhà hàng xóm xin

Nay ngồi im đành chịu

"CON NGƯỜI SỢ CON NGƯỜI"

Là điều có thật

Không còn viễn tưởng hay xinema nữa rồi

Cứu trợ bằng cá bằng cơm

Bình thường quá!

Giờ thời hiện đại 4.0

Thêm một món thiết 

yếu 

Oxy

Thương  tâm quá mọi người ơi!.

H.V

-----


BC ở SG cần oxy

Bấm link này

#oxysaigon

#oxymienphi


18/8/2021

Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

Hòa Văn: TÚ XUÂN BÀN LÃNH

     


      Thời buổi đất nước nhiễu nhương, giặc Pháp mặc sức hoành hành còn triều đình Huế thì tỏ ra quá nhu nhược... Đỗ Đăng Xuân ấp ủ tâm tưởng làm điều gì đó ích nước lợi dân. Làng Bàn Lãnh ở đất phù sa Gò Nổi bốn bề sông nước, vốn nổi tiếng có truyền thống hiếu học.

 Ông Đỗ Đăng Hạt - cha của Đỗ Đăng Xuân - rất quan tâm đến việc học hành của con cái và thường hay chia sẻ với con nhiều chuyện. Riêng việc nước việc non ông Hạt thổ lộ: - Cha thì không rõ lắm... nhưng nếu thực đúng y như con nói thì nên... Thi đỗ tú tài thay vì tiếp tục “trau dồi kinh sử” đặng chiếm khoa bảng làm ông nọ bà kia... hòng có cơ hội vinh thân phì gia. Tú Xuân lấy cớ ở nhà phụng dưỡng song thân, rồi tìm cách giao du với các thân hào nhân sĩ trong tỉnh bàn luận quốc sự và tham gia Nghĩa hội Quảng Nam hưởng ứng phong trào Cần vương. *** “Sau sự biến kinh thành ngày 5 tháng 7 năm 1885 kinh đô Huế thất thủ Tôn Thất Thuyết cùng với các viên quan trong triều đình nhà Nguyễn hộ giá vua Hàm Nghi lên Tân Sở (Cam Lộ - Quảng Trị) mưu sự xây dựng căn cứ kháng Pháp lâu dài. Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước phò vua đánh đuổi giặc Pháp. Lời hịch Cần vương không bao lâu nhanh chóng lan ra cả nước, dấy lên một cao trào khắp nơi, "Nghĩa hội mọc lên như rừng rậm, hịch quân truyền khắp như gió bay"(1). Trước đó một năm, tháng 7 năm 1884, Đốc Tiểu Sứ Trần Văn Dư dâng sớ xin vua Hàm Nghi củng cố Nha sơn phòng Quảng Nam lúc này đặt tại Dương Hòa (Phủ Thăng Bình) để giữ tả kỳ, làm phên dậu phía nam của kinh đô Huế. Do có ý chỉ từ trước vậy nên chỉ ít ngày sau khi chiếu Cần Vương ban bố các nghĩa sĩ như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Nguyễn Thành đứng ra thành lập Nghĩa hội Quảng Nam. Doanh trại ban đầu đóng tạị Trung Lộc, Tân Tỉnh (Quế Sơn). Vua thân Pháp Đồng Khánh ra lệnh thuyên chuyển Trần Văn Dư nhưng ông không những bất tuân chỉ lệnh mà còn kéo quân chiếm giữ sơn phòng và uy hiếp tỉnh thành La Qua (Điện Bàn). So với các nơi khác Trung Lộc, Tân Tỉnh là một địa thế có nhiều thuận lợi, núi non hiểm trở, cây cối rậm rạp, hào sâu vực thẳm rất tốt cho phòng thủ, còn việc đi lại cả thủy lẫn bộ đều dễ dàng lại tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ mặt khác đây còn là một vùng trung du, đất đai màu mỡ, nằm bên dòng sông Thu Bồn, đáp ứng sản xuất lương thực tự cung tự cấp đầy đủ cho lực lượng nên được Nghĩa hội Quảng Nam chọn làm là cơ quan hành chính, quân sự kháng chiến chống quân Pháp và đối phó cả quân của Đồng Khánh.”(2).


                        *** 


       Bắt được Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân, quan viên triều đình hớn hở lắm!. Quản cơ Thiển, vừa lớn tiếng hăm doạ vừa dụ hàng: - Hẳn ông biết tội “phản nghịch” triều đình xử mức án chi không?. Hãy mau mau thức thời quy phục!. Chánh suất đội Hân, châm thêm: - Nếu ông hối tội khai rõ mọi điều cơ mật, may mô triều đình tha cho tội chém hỉ!. Nãy giờ lòng dạ Tán Tương Quân Vụ nóng như lửa đốt, muốn trút cơn giận dữ lên đầu bọn mãi quốc cầu vinh nhưng dằn lòng coi thử. Cách đây hai hôm Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân chỉ huy nghĩa binh Cần vương tấn công đồn Trà Kiệu. Biết không sớm thì muộn triều đình cũng gởi viện binh giải vây, đang lúc sẵn sàng ứng phó... thì Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân bị giặc bắt giải về tỉnh thành La Qua. Nhìn thẳng vào mặt quan viên triều đình, Tán Tương Quân Vụ thét lớn: - Giờ ta “cá chậu chim lồng” các người muốn hành xử cách chi thì hành xử!. Chứ đừng có hòng lung lạc ý chí “đánh cả Triều lẫn Tây” của Nghĩa hội Quảng Nam!”. Hòng dập tắt cao trào Cần vương đang nổi dậy khắp nơi, triều đình Huế và giặc Pháp xử Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân mức án “chém ngang lưng, bêu đầu”!. Tin dữ bay xa đồng bào khắp nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam bồi hồi xúc động. Trước khi thọ án Tán Tương Quân Vụ yêu cầu được trở về thăm làng lần cuối. Bọn giặc nghĩ đây là dịp chúng thị uy răn đe phong trào Nghĩa hội nên đồng ý. Mới qua giờ Tỵ mà trời nắng nóng như thiêu như đốt. Chẳng nề hà... giống y đi dự lễ đón rước sĩ tử về làng “Vinh quy bái tổ” người khắp nơi đổ về sân đình Bàn Lãnh đông nghịt. Không nói ra nhưng ngó bộ dạng biết ngay trong lòng ai ai cũng thầm khen ngợi nghĩa cử hết sức cao quý và khí phách hào hùng của Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân, người con của làng quê nổi tiếng với câu ca “Cây đa mô cao bằng cây đa Bàn Lãnh/ Đất mô thanh cảnh bằng đất Bảo An”. Ông Đỗ Đăng Hạt và chị Ba Lý vợ của Đỗ Đăng Xuân len lỏi vào giữa đám đông đến gần. Nén xúc động Tán Tương Quân Vụ nói rành mạch: - Thưa cha việc con làm là vì nước, vì dân!. - Cha biết!. Cha biết!. Lặng nhìn vợ một chặp Tán Tương Quân Vụ mới nhỏ nhẹ nói: - Mong em chu toàn phụng dưỡng song thân lúc tuổi xế chiều! Và nuôi dạy các con nên người!(3). Chị Ba Lý mấp máy môi muốn nói điều gì... nhưng chỉ gật gật đầu rồi cất tiếng “Dạ!. Dạ!”. Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân dõng dạc cáo biệt Thành hoàng, Tổ tiên khẳng định hành động tham gia phong trào Nghĩa hội Quảng Nam đánh “cả Triều lẫn Tây” là đúng đắn!. Sự nghiệp dẫu còn lắm gian nan nhưng chính nghĩa sớm muộn gì cũng nhất định thắng lợi!.


                                  *** 


      Tiếng là nơi trên bến dưới thuyền ở một đoạn sông Thu Bồn ngày thường đông đúc và nhộn nhịp thế mà sáng nay đất trời chợ Củi(4) ảm đạm quá!. Mặc cho quan tổng quan phủ sức dân các làng dậy cơm nước sớm đi xem triều đình xử án nhưng trông ai ai cũng nấn ná. Chừng nửa buổi quan binh triều đình lạnh lùng xử chém ngang lưng Tán Tương Quân Vụ rồi cắt đầu cắm ngay tại chợ. Hôm ấy là ngày 31 tháng 12 năm 1885(5). Trước giờ phút hy sinh Tán Tương Quân Vụ lớn tiếng vạch trần âm mưu của giặc Pháp và triều đình, khẳng khái ca ngợi vua Hàm Nghi và Nghĩa hội Cần vương. Tấm lòng yêu nước thương dân của Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân tục danh Tú Xuân Bàn Lãnh lưu danh muôn thuở!(6).

 Hòa Văn

 -------- 

 - (1): Huỳnh Thúc Kháng. - (2): Lịch sử Việt Nam. - (3): Theo Gia phả tộc Đỗ Đăng làng Bàn Lãnh: Bà Trịnh Thị Lý, thứ thất, có bốn con – hai trai, hai gái. - (4): Chợ Củi ở tả ngạn sông Thu Bồn, đầu cầu Câu Lâu (cũ) (còn gọi là cầu Mống), phía tây quốc lộ 1A (nay xã Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam). Vào thế kỷ XVII – XVIII chợ chuyên bán củi được khai thác từ phía thượng nguồn sông Thu Bồn, kết bè thả trôi về, nhằm cung cấp chất đốt cho dinh trấn Thanh Chiêm, các lò gạch ở Thanh Hà, phố Hội An và các tàu thuyền nước ngoài đến đây buôn bán. Chợ nay không còn nữa. - (5): Nhằm ngày 26 tháng 11 năm Ất Dậu sau gần 3 tháng giam giữ. Cái chết đầy tính chất bi tráng của Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân và không lâu sau đó là sự hy sinh của hai thủ lĩnh Nghĩa hội Quảng Nam là Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến bởi bàn tay của giặc Pháp và triều đình Huế thời vua Đồng Khánh đã khép lại một phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân tuy ngắn ngủi (1885-1887), nhưng không kém phần sôi động, oanh liệt(2). - (6): Nhân dân làng Bàn Lãnh thường gọi Tán Tương Quân Vụ Đỗ Đăng Xuân với tục danh Tú Xuân. Ông sinh năm 1836 - hy sinh năm 1885, mộ toạ lạc tại làng Bàn Lãnh (thôn Đông Lãnh xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam).