Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

LÊ THÍ: HAI CHÍ SĨ, MỘT NGÔI MỘ

 Hôm nay (17/5/2026) là giỗ lần thứ 110 hai nhà yêu nước Thái Phiên và Trần Cao Vân. 



       Có hai nhà cách mạng người Quảng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ.


      Đó là Thái Phiên và Trần Cao Vân. Trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916, Thái Phiên và Trần Cao Vân là hai nhân vật hàng đầu. Trong tờ chiếu khởi nghĩa của vua Duy Tân đề ngày 27 tháng 3 năm Duy Tân thứ mười (29-4-1916) hiện còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (The Archives Nationales d’Outre-Mer, viết tắt là ANOM) của Pháp ở Aix-en-Provence và tại Văn khố Toàn quyền Đông Dương có sao gửi cho 4 người gồm: Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lâm Nhĩ, Nguyễn Quang Siêu.

       Nguyên văn trong tờ chiếu (được dịch ra quốc ngữ):

“... Trong tất cả mọi việc, Trẫm trao quyền hành động cho Hồng Việt, Hoàng Anh, Thanh Minh và Lam Giang, với sự hợp tác của những người có tấm lòng cao cả trong ba kỳ của Quốc gia Annam, dù họ là quan chức, viên chức, đương nhiệm hay không đương nhiệm, các nho sĩ, thân hào, người bình dân, và tất cả đều vì mục đích theo đuổi là đem lại một kỷ nguyên Văn Minh.

       Ngay sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả những ai có cống hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng và sẽ trở thành bất tử qua thời gian.

Bất cứ ai cản trở sự nghiệp này sẽ bị truy tố và trừng phạt không tha thứ.

Nay kính báo.

Chuyển để thi hành:

-  đến đạo nhơn Trần... (tức Trần Cao Vân - LT), tự Hồng Việt - chức vụ và cấp bậc: Cố vấn cao cấp, Tể tướng để phục hưng, phòng vệ đoàn tùy tùng hoàng gia, phụ trách các vấn đề quân sự.

- đến đạo nhơn Thái... (tức Thái Phiên - LT), tự Hoàng Anh, Phó cố vấn cao cấp, Tổng đốc Hoàng Thành, phụ trách các vấn đề tài chính và kinh tế”.

      Cuộc khởi nghĩa được dự định tổ chức vào đúng 1 giờ sáng ngày 3-5-1916.  Trần Cao Vân và Thái Phiên phân nhiệm cho các nhân vật, chiếm các tỉnh, còn hai ông điều khiển việc chiếm kinh đô Huế, rước vua Duy Tân ra khỏi Đại Nội, đi vào phía Nam chờ bình định xong sẽ phò nhà vua trở lại ngôi.

       Đại sự bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa thất bại. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị bắt tại chùa  Ngũ Phong (gần An Cựu, thành phố Huế).

       Thái Phiên và Trần Cao Vân đã bị Viện Cơ mật kết án (được dịch ra quốc ngữ): “Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, tự thảo chiếu văn, kế đến neo thuyền ở bến Thương Bạc, chờ rước nhà vua, mời vua dùng cơm lạt ở làng Hà Trung, ăn cháo gà ở núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu sương gió, tội lỗi này đều do bọn kia tạo ra. Chiếu theo luật xử chém”.

       Chiều 17-5-1916 (16/4 Bính Thìn) Thái Phiên cùng Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu và Tôn Thất Đề ra trường chém ở An Hòa đền nợ nước.

       Về cái chết của hai ông, các tài liệu đều cho là diễn ra vào ngày 17-5-1916.  Nhưng gần đây nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn trên tạp chí Xưa và Nay và báo Đà Nẵng Cuối tuần lại dẫn các tờ báo Trung Bắc Tân Văn (số ngày 27-5-1916), Lục Tỉnh Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm (8-6-1916) lại cho rằng cuộc xử chém diễn ra vào lúc 16 giờ 30 chiều 16-5-1916. Đây là mẩu tin ngắn trên báo Trung Bắc Tân Văn: “Hồi 4 giờ rưỡi chiều 16 Mai, bốn người mưu việc khởi loạn Trung Kỳ, đã phải xử tử tại đường Quảng Trị, cách la-ga An Hòa 100 thước. Một người tên là Trần Cao Vân và một người là Thái Phiên, cùng ở Quảng Nam cả...”.

      Cho đến nay vẫn không biết vì sao có sự vênh lệch này!

      Tương truyền, tại pháp trường hôm ấy, khi đầu Thái Phiên rơi xuống đất, một thiếu phụ mặc đồ tang đã chạy ngay đến, ôm chặt thi thể người chí sĩ vào lòng, khóc thương thảm thiết. Khi bị lôi ra, thiếu phụ đã xõa tung mái tóc đen thấm lấy dòng máu tươi từ cơ thể người chí sĩ. Thiếu phụ ấy là bà Trần Thị Băng, thiếp của Thái Phiên. Bà đã giữ máu ấy trên đầu, không chịu tắm gội. Mấy tháng sau bà mang bệnh nhưng kiên quyết không uống thuốc để chết theo chồng.

      Cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân và các chí sĩ của cuộc khởi nghĩa đã gây xúc động lớn. Huỳnh Thúc Kháng ở Côn Đảo nghe tin cái chết oai hùng của Thái Phiên đã có thơ (được dịch ra quốc ngữ): Âu học không đem rút của người,/ Chả thành đời sống vứt như chơi./ Kìa phường học mới đông như kiến,/ Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi? (Huỳnh Thúc Kháng, Thi Tù Tùng Thoại, Nam Cường, 1951).

      Năm 1925, một đồng chí của hai ông là bà Trương Thị Dương người làng Tân Điền, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã lén đưa thi hài của Thái Phiên và Trần Cao Vân đem chôn trong một ngôi mộ chung tại đồi Từ Hiếu ở thành phố Huế. Ngôi mộ chung này đã được công nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia vào ngày 14-7-1990.

      Ở Đà Nẵng, trên đường Trần Cao Vân có ngôi trường phổ thông trung học lớn mang tên Thái Phiên, như một gợi nhớ về hai nhà cách mạng tuy sinh không cùng năm nhưng lại cùng lý tưởng, cùng hy sinh một ngày cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cùng được an nghỉ với nhau chung trong một ngôi mộ

LÊ THÍ



Ảnh: Ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân ở Huế

                                                                                          

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Truyện ngắn Hòa Văn: 🅲🅷🅸Ế🅲

  


(Tặng anh Đỗ Cao Thiên, Sài Gòn)

TẨN NGỒI THẪN NGƯỜI TRÊN SÂN THƯỢNG TRƯỚC bông hoa mới vẽ xong, bông hoa màu đồng nội còn đẫm ướt sương mai không biết bao lâu rồi, có lẽ nửa đêm hay chậm hơn một chút. Nhưng sớm hay muộn bây giờ không quan trọng khi bông hoa tâm tưởng đã nở rồi.

Tẩn nhớ mỗi độ tết đến xuân về, hồi tóc còn để chỏm thường lon ton chạy theo mẹ về Gò Nổi thăm ngoại. Nhiều lúc bị mẹ la cũng chỉ vì mải tần ngần đứng ngắm nhìn những bông hoa cỏ dại nhỏ xíu đủ màu sắc rực rỡ nở thắm ven đường quê, khi ấy hồn vía ở đâu đâu đến nỗi quên lửng đang đi với mẹ.
- Đi… đi… kẻo nắng tới nơi rồi! - Mẹ mắng yêu, rồi nắm tay kéo đi như chạy.
Gò Nổi đẹp và nổi tiếng là đất học có nhiều danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân… Biết các cụ qua lời kể trầm trầm của ông ngoại khi mới học lớp ba trường làng và cứ mỗi lần như thế Tẩn ước muốn sau này sẽ vẽ một bức tranh cỡ lớn về các loài hoa đồng nội để tặng quê hương và tặng các danh nhân. Trong đó, có một đóa hoa riêng tặng các bà mẹ sinh ra các bậc danh nhân. Thế mà từ khi thành họa sĩ ít nhiều tiếng tăm ở đất Sài Gòn, Tẩn không vẽ được một bông hoa đồng nội nào ra hồn. Có bông đẹp lộng lẫy thì giống hoa hồng, nhiều bông vẽ xấu hơn bất kể hoa nào từng thấy, nên lòng ray rứt mãi…
Tẩn nhất quyết đóng cửa ở nhà vẽ. Tẩn nói với Ngân - bạn thân cũng là họa sĩ - sẽ không ra khỏi nhà, không gặp một ai nữa nếu không vẽ được bức tranh độc hoa đồng nội. Đêm qua Tẩn vẽ được bức độc hoa, rồi mở tung cửa nhà đón chào đất trời phơi phới vào xuân. Người đầu tiên thưởng thức bức độc hoa là Ngân khi cô mang cho Tẩn cà mèn phở, kèm theo tách cà phê.
- Tẩn ơi! Tẩn ơi! Ngân gọi và thấy hơi lạ vì mấy bữa trước có khi phải đập cửa thình thình Tẩn mới ú ớ ra mở cửa, thế mà sáng nay cửa ngõ mở toang như đêm hôm có trộm. Ngân lên thẳng tầng hai, ra sân thượng và ngẩn ngơ trước đóa hoa đồng nội đang nở rộ, Ngân bước tới định lấy tay đỡ… Tẩn hét lớn: “Đừng chạm vào, đấy là đóa hoa trong tâm tưởng, mình đã vẽ được rồi…”.
Sau đó, sân thượng nhà Tẩn trở thành nơi rất nhiều người đến thưởng lãm tranh. Ai cũng khen hoa rất đẹp nhưng có điều gì đó lòng bất an. Tẩn vẽ thêm một bông nữa, rồi thêm một bông nữa, một bông nữa… Cứ vẽ thêm như thế, không những bức tranh hoa ngày càng xấu hơn mà còn cảm thấy thêm bất an. Tẩn nằm rã rượi, chẳng nói, chẳng rằng.
Ngày tháng trôi qua, bức tranh ngàn hoa đồng nội cũ kỹ, người thưởng lãm thưa dần rồi chẳng còn ai đoái hoài. Nếu như ngày vẽ xong đóa độc hoa đồng nội Tẩn nổi tiếng chừng nào thì bức tranh vẽ thêm ngàn hoa lại nhận chìm hồn phách Tẩn chừng ấy. Sài Gòn không nói làm gì, bởi chốn phồn hoa nổi tiếng đấy rồi lại vô danh tiểu tốt đấy! Khốn nỗi, ở quê bông hoa đồng nội được Tẩn sinh nở trên bức tranh độc hoa ấy, bà con làng xóm lúc tỏ tường cớ sự lại tỏ ra khinh miệt. Có người còn đặt câu hát “Đất có trời, Gò Nổi có Tẩn người “hỏa si”.
Mỗi ngày thức dậy trong nỗi ám ảnh hoa đồng nội, Tẩn điện về cho bạn cũ ở quê gửi vào hàng ngàn bông hoa đồng nội khác, để mỗi ngày ngắm một chiếc rồi đặt thêm một tên mới như bông chuối nước trở thành hoa lửa, bông bìm bìm là hoa nhớ. Ngắm xong, đặt tên xong, vẽ, càng vẽ càng giống như “quỷ sa” không hơn không kém. Ngân gợi ý: “Chẳng lẽ suốt đời Tẩn mang nỗi buồn không vẽ được hoa đồng nội mãi hay sao?”. “Dễ đúng như vậy”. “Hoa cũng như người, ai bội bạc quên nghĩa quên tình, cả đời dù có làm gì, ở đâu, sống như chết!”.
“Hay là Ngân cùng về quê nội, quê ngoại của mình một lần, thăm lại nơi một thời tóc để chỏm, đi học trường làng, có những đứa bạn hiền như đất, chỉ biết rong chơi với cỏ hoa đồng nội. À, có một loại bông cỏ gà, tụi mình hễ bắt gặp được thì mừng vô kể, xúm nhau hái, sau đó cùng chơi trò chọi gà”. Tẩn kể một mạch, Ngân ngồi chon hỏn nghe chẳng hiểu gì, bởi quê Ngân ở miệt sông nước Nam Bộ nên làm gì có loại bông cỏ Tẩn nói đâu. Tẩn như hiểu ra, cười cười: “Không hiểu phải không, ví dụ này…”. Hai tay cầm hai cây cọ vẽ còn nhèm nhèm phẩm màu Tẩn giải thích rằng cây cỏ gà trổ trên đầu chồi non một chùm lá như thế này… Mỗi đứa một bông cỏ quất mạnh vào nhau, bông cỏ đứa nào đứt lìa cọng cỏ là thua. Ngân ậm ừ: “Mà bao giờ đi?”. “Đi ngay thôi!”.
Bây giờ trở lại Sài Gòn, Tẩn còn nhớ mãi lời tâm sự từ những người bạn cũ thân thiết sống ở quê, theo đó bức tranh ngàn hoa đồng nội của Tẩn nên vẽ thêm những chiếc lá vàng ở phần nền cuối của bức tranh. Không có sự sống nào không tàn lụi theo thời gian, song hồn của sự sống nếu được đặt đúng chỗ sẽ sống dậy và sống mãi…
Đứng trước bức tranh tay cầm cây cọ, tay bưng đĩa màu còn lại sền sệt, đăm chiêu suy nghĩ, hình như có ai đó nắm lấy tay Tẩn nâng lên… Tẩn vẽ những chiếc lá vàng. Bức tranh bỗng sáng rực rỡ. Hay tin Tẩn từ quê trở lại thành phố bạn bè tới thăm và ngạc nhiên trước bức tranh cũ bây giờ tươi tắn, hồi sinh. Bức tranh ấy có tên Chiếc lá.

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Văn Viết Thiện: ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"

ẢNH ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"(*) Nhìn hình ảnh đôi guốc gỗ mức này. tôi lại nhớ về một hình ảnh tuổi thơ của tôi cách đây 70 năm. Có câu: “Còn cha gót đỏ như son Mỗi khi cha mất gót con đen sì.” Nhưng tôi còn mẹ, mẹ không để gót của anh em tôi đen sì, nên dù khó khăn cùng cực cũng cố gắng sắm cho cả hai anh tôi chỉ có một đôi. Nên tôi đổi lại hai câu trên như sau: “Còn cha giày, dép, sandal Cha đi đôi guốc xà bang hai người Xà bang gõ nhịp đường đời Ân tình của Mẹ… suốt đời con ghi! P/s: (*) xà bang là tên gọi đôi guốc gỗ mức của xứ Huế (Ảnh trên Internet) …….,.,.,,,,…………….. Đôi guốc gỗ mức nằm im trong tấm ảnh cũ mà dậy lên tiếng gõ từ bảy mươi năm trước. Ngày đó nhà nghèo đến nỗi hai anh em chỉ chung được một đôi guốc, vậy mà Mẹ vẫn xoay xở ôm cái chợ, ôm ruộng đồng để gót chân con không đen sì như câu hát người ta nói. Cha còn giày, dép, sandal… còn con – đi đôi guốc xà bang của hai người một lượt. Mỗi bước gõ xuống đường đời vừa gượng gạo vừa thương Mẹ vô cùng. Xà bang gõ khẽ mà thấm suốt tuổi thơ. Những buổi trời mưa gỗ ướt mùi bùn đất Mẹ hong bên bếp rơm như hong tuổi nhỏ khỏi những mùa cơ cực. Giờ tóc con đã bạc mà tiếng xà bang ngày cũ vẫn gõ vào lòng như lời nhắc nhẹ: Ân tình của Mẹ… suốt đời làm rưng mắt con.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Hòa Văn: GIỮ CHO NỔI TRÁI TIM!

Di ảnh NT, NS Đynh Trầm Ca Đi là đi... Đi về nơi tới Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim! Hòa Văn Bài bình của AI: Phân Tích Hai Câu Thơ Tưởng Niệm Đynh Trầm Ca: Lời Vĩnh Biệt Và Sự Bất Tử Của Tâm Hồn Hai câu thơ của Hòa Văn tưởng niệm Đynh Trầm Ca – một nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa vừa qua đời – đặt ra một thử thách kép: vừa phải nắm bắt được tinh thần của một bài thơ viếng, vừa phải diễn giải được sức nặng triết lý trong cấu trúc ngôn ngữ cô đọng. Hai câu thơ: "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" không chỉ là lời tiễn biệt cuối cùng mà còn là một tuyên ngôn sâu sắc về sự ra đi và sự lưu giữ tâm hồn nghệ sĩ. Phân tích cấu trúc và từ ngữ Bài thơ mở đầu bằng một cấu trúc lặp lại đầy tính khẳng định và dứt khoát: "Đi là đi...". Cụm từ này không chỉ đơn thuần là thông báo về sự qua đời, mà còn mang sắc thái của một sự thật không thể đảo ngược, một quy luật tất yếu của sinh mệnh. Việc lặp lại từ "Đi" tạo nên nhịp điệu trầm buồn, nhấn mạnh tính dứt khoát của cuộc chia ly. Tuy nhiên, sự dứt khoát đó ngay lập tức được dung hòa bằng vế sau: "Đi về nơi tới". Cụm từ "nơi tới" mang ý nghĩa siêu thoát, ám chỉ một thế giới khác, một cõi vĩnh hằng mà người nghệ sĩ đã đạt tới sau khi kết thúc hành trình dương thế. Hình ảnh "đi" ở đây không phải là sự biến mất hoàn toàn, mà là sự chuyển dịch có đích đến, một hành trình tâm linh được người ở lại nhìn nhận với sự tôn kính. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" là câu thơ chứa đựng toàn bộ bi kịch và cũng là niềm an ủi sâu sắc nhất. "Cõi tạm" là một khái niệm triết học sâu sắc, chỉ kiếp sống tạm bợ, hữu hạn của con người trên trần gian. Vế hỏi tu từ "nào giữ cho nổi" thể hiện sự bất lực của cõi vật chất hữu hình trước sức mạnh của những giá trị tinh thần, nghệ thuật. Trái tim ở đây không chỉ là cơ quan sinh học, mà là biểu tượng cho tình yêu, cho tâm hồn nghệ sĩ, cho những sáng tạo và cống hiến mà Đinh Trầm Ca đã dành cho cuộc đời. Câu thơ khẳng định rằng, dù thân xác có tan biến vào cõi tạm, thì những giá trị tinh thần, những rung động nghệ thuật mãnh liệt trong trái tim ông vẫn không thể bị cái tạm bợ đó giam giữ hay hủy hoại. Chủ đề và Ý nghĩa tưởng niệm Qua hai câu thơ, Hòa Văn đã khắc họa thành công hai chiều kích của sự ra đi: sự thật nghiệt ngã của cái chết và sự bất tử của di sản. Đynh Trầm Ca, với tài năng và tâm huyết của mình, đã sống một cuộc đời không chỉ bằng hơi thở mà bằng những giai điệu, những vần thơ lay động lòng người. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc và văn học Việt Nam, nhưng những gì ông để lại – cái "trái tim" nghệ thuật của ông – đã vượt lên trên "cõi tạm" vật chất. Kết luận Hai câu thơ của Hòa Văn là một lời tạ từ đầy xúc động, sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu sức gợi. Nó không sa đà vào thương cảm ủy mị mà hướng người đọc tới sự chiêm nghiệm về giá trị trường tồn của nghệ thuật. Cái "đi" của Đynh Trầm Ca là sự giải thoát khỏi cái tạm bợ, để trái tim nghệ sĩ vĩnh viễn ngự trị trong miền bất tử của ký ức và sự nghiệp sáng tạo. Tác phẩm nhỏ này đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh tưởng niệm: vừa tiễn biệt người đã khuất, vừa khẳng định giá trị vượt thời gian của di sản họ để lại./. Bài bình 2 Câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn, dù chỉ là một đoạn trích ngắn, đã khắc họa một nỗi niềm sâu lắng về sự tồn tại, về hành trình của kiếp người và ý nghĩa của những gì ta mang theo trên suốt chặng đường ấy. Với ngôn từ giản dị nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc, hai câu thơ này đã chạm đến những suy tư muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc đời và sự vô thường của vạn vật. "Đi là đi... Đi về nơi tới" mở ra một khái niệm về sự vận động, về một hành trình không ngừng nghỉ. "Đi là đi" mang tính khẳng định mạnh mẽ, như một quy luật tất yếu của vũ trụ. Nó không chỉ đơn thuần là sự di chuyển về mặt địa lý, mà còn là sự chuyển dịch không ngừng của thời gian, của kiếp người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một bước "đi", đưa ta rời xa hiện tại để tiến về tương lai. Cụm từ "Đi về nơi tới" hé lộ một điểm đến, một đích đến mà hành trình này hướng tới. Tuy nhiên, "nơi tới" ở đây mang tính đa nghĩa, có thể là một miền đất mới, một giai đoạn sống khác, hoặc xa hơn nữa là sự an nghỉ cuối cùng. Sự lặp lại của động từ "đi" nhấn mạnh tính liên tục, không thể đảo ngược của hành trình này. Nó mang một chút gì đó của sự chấp nhận, của việc thuận theo dòng chảy tự nhiên mà không thể chống cự. Nối tiếp vế trên, câu thơ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" lại đặt ra một vấn đề đầy chiêm nghiệm về bản chất của sự tồn tại và khả năng níu giữ những gì ta trân quý. "Cõi tạm" là một hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong tư tưởng Phật giáo và triết học Đông phương, chỉ thế giới vật chất, những thứ hữu hình mà ta đang trải nghiệm, nơi mà mọi thứ đều vô thường, thay đổi. "Cõi tạm" là nơi ta sinh sống, ta yêu thương, ta vun đắp, nhưng nó không phải là tất cả, không phải là vĩnh cửu. Ngược lại, "trái tim" lại đại diện cho những gì thuộc về tinh thần, cảm xúc, tình yêu, ước mơ, lý tưởng – những thứ vô hình nhưng lại là cốt lõi, là bản thể của con người. Sự đối lập giữa "cõi tạm" và "trái tim" tạo nên một sức căng trong câu thơ. Câu hỏi tu từ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim?" không đòi hỏi một câu trả lời cụ thể, mà nó chất vấn, nó gợi mở. Nó đặt ra nghi vấn về khả năng của thế giới vật chất hữu hạn trong việc chứa đựng, giữ gìn những tình cảm, những giá trị tinh thần vô hạn của con người. Dù ta có cố gắng níu giữ, có xây dựng những gì vững chắc đến đâu trong "cõi tạm" này, liệu chúng có đủ sức để giữ trọn vẹn những rung động, những khao khát sâu thẳm trong trái tim ta hay không? Hay chính bản chất phù du của "cõi tạm" sẽ khiến những gì ta quý trọng nhất cũng dần phai nhạt, biến đổi? Có thể hiểu câu thơ này theo nhiều tầng nghĩa. Ở một khía cạnh, nó nói lên sự bất lực của con người trước quy luật vô thường. Dù ta có yêu thương, có gắn bó đến đâu, thì cuộc chia ly, sự đổi thay vẫn là điều khó tránh khỏi. "Cõi tạm" với những mối quan hệ, những vật chất mà ta cho là bền chặt, cuối cùng rồi cũng sẽ tan biến. Điều còn lại, có lẽ chỉ là những dấu ấn trong "trái tim" - nơi lưu giữ những kỷ niệm, những bài học, những tình yêu đã từng tồn tại. Ở một khía cạnh khác, câu thơ cũng gợi lên một thông điệp về sự trân trọng những giá trị tinh thần. Trong một thế giới đầy biến động, "cõi tạm" có thể lung lay, có thể thay đổi, nhưng "trái tim" với những rung động chân thành, những tình cảm sâu sắc mới là điều cốt yếu, là thứ ta nên giữ gìn và vun đắp. Thay vì quá bám chấp vào những thứ hữu hình, ta nên hướng tới việc nuôi dưỡng tâm hồn, để dù "cõi tạm" có đổi thay, những giá trị tinh thần ấy vẫn có thể soi đường, dẫn lối. Tóm lại, hai câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn là một lời tự vấn đầy day dứt về hành trình tồn tại và bản chất của hạnh phúc. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, cuộc đời là một chuyến đi, và những gì quý giá nhất không nằm ở đích đến hay những gì ta tích lũy được, mà nằm ở cách ta sống, cách ta yêu thương và cách ta giữ gìn ngọn lửa thiêng liêng trong trái tim mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc đời./. Bài bình 3: "Đi là đi... Đi về nơi tới": Cụm từ "Đi là đi..." nhấn mạnh sự dứt khoát, không thể quay lại của cái chết. Đây là một sự thật nghiệt ngã mà người ở lại phải chấp nhận. "Đi về nơi tới" là một cách nói thanh lịch, nhẹ nhàng về cõi vĩnh hằng. Nó ngụ ý rằng hành trình trần thế đã kết thúc, và linh hồn đã đến một đích đến cuối cùng. Đối với một nhà thơ như Đynh Trầm Ca, người có thơ ca đượm buồn và ám ảnh về thân phận, sự "đi về nơi tới" này có thể là một sự giải thoát. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!": "Cõi tạm" là ẩn dụ cho thế giới trần gian, nơi mọi thứ đều vô thường, không bền vững. "Trái tim" ở đây mang ý nghĩa kép: Nó đại diện cho cõi lòng nghệ sĩ, với những tình yêu, nỗi buồn, những trăn trở về thân phận ("cảm thức về thân phận và tình yêu" là chủ đề xuyên suốt trong thơ ông). Đồng thời, nó cũng là biểu tượng cho sự sống, cho những rung cảm mãnh liệt đã từng hiện hữu. Câu hỏi tu từ này thể hiện sự ngậm ngùi, xót xa: Không có cõi tạm nào đủ sức níu giữ được sự sống, dù cho trái tim ấy có mãnh liệt, sâu sắc đến nhường nào. Sự ra đi là quy luật không thể cưỡng lại. Liên hệ với Đynh Trầm Ca: Hai câu thơ này rất hợp với hồn thơ của Đinh Trầm Ca, người thường viết về thân phận cô độc, sự trôi dạt và nỗi buồn vương vấn (như hình ảnh con tàu "lỡ chuyến", hay hình ảnh lục bình trôi). Dù ông đã tạo ra những tác phẩm âm nhạc và thi ca bất hủ, chứa đựng nhiều tình cảm chân thành, thì cuối cùng, ngay cả người nghệ sĩ tài hoa ấy cũng không thể ở lại cõi tạm này mãi được. Hai câu thơ của Hòa Văn là sự tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ về sự mất mát: sự ra đi là tất yếu, và mọi thứ ta gìn giữ trên đời này đều chỉ là thoáng qua./.

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2025

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG LẦN THỨ VII

ĐẠI HỘI VII HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG THÀNH CÔNG * DANH SÁCH ỦY VIÊN * ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 Sáng ngày 13/07/2025 tại từ đường tộc Văn Công làng Mỹ Xuyên Đông, thôn Xuyên Đông, xã Nam Phước, Tp Đà Nẵng Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khai mạc Đại hội Đại biểu họ Văn Tp Đà Nẵng lần thứ VII. Đại biểu HĐGT, Bà con họ Văn trong tp Đà Nẵng, Đại biểu họ Văn Việt Nam, họ Văn Tp Huế, Đại biểu lãnh đạo xã Nam Phước, Báo- Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng, BTS đình làng Mỹ Xuyên Đông đến dự. Đại hội tổng kết hoạt động tộc họ, HĐGT, Hội đồng họ Văn QN-ĐN khóa VI nhiệm kỳ 2016-2025 thông qua Phương huớng nhiệm vụ khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030. Đại hội nghe tham luận của 3 tộc Văn Công Mỹ Xuyên Đông, Văn Bá Mỹ Xuyên Tây, Văn Đức Xuân Đài về hoạt động Khuyến học, Hội Nàng dâu con gái, Chúc thọ... Ông Vũ Công Dũng chủ tịch UBMTTQVN xã Nam Phước phát biểu ghi nhận việc hoạt động tộc họ tại địa phương cũng như cả Tp Đà Nẵng có nhiều thành tựu đoàn kết tộc họ trong mọi phong trào tộc họ và phong trào xã hội, góp phần ổn định phát triển VH- XH - KT ANQP địa phương . Ghi nhận biểu dương bà con họ Văn Tp Đà Nẵng có nhiều việc làm tích cực như báo cáo tổng kết, tham luận tại Đại hội. Đại hội công cử 28 Ủy viên Hội đồng khóa VII. Tại phiên họp lần thứ I Hội đồng bầu 7 Ủy viên vào Thường trực Hội đồng khóa VII. Đại hội thông qua Nghị quyết Đại hội và biểu dương Tri ân 20 cá nhân và 1 HĐGT về thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ khóa VI. DANH SÁCH ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 1. Ông Văn Bá Anh 2. Ông Văn Bá Chỉ 3. Ông Văn Công Hạnh 4. Ông Văn Công Huy 5. Ông Văn Công Chiến 6. Ông Văn Công Bảy 7. Ông Văn Công Hòa 8. Ông Văn Công Tâm 9. Ông Văn Công Nhẹ 10. Ông Văn Công Cư 11. Ông Văn Đức Tuân 12. Ông Văn Đức Tỵ 13. Ông Văn Đức Diệp 14. Ông Văn Đức Lời 15. Ông Văn Đức Nguyên 16. Ông Văn Đức Kim Dương 17. Ông Văn Phú Ruộng 18. Ông Văn Hữu Duy Khánh 19. Ông Văn Hữu Thành 20. Ông Văn Hữu Kha 21. Ông Văn Hữu Sáng 22. Ông Văn Quý Biền 23. Ông Văn Quý Biền 24. Ông Văn Công Vũ TN - SV - HS 25. Ông Văn Tấn Tiến 26. Ông Văn Viết Mười 27. Ông Văn Viết Yên 28. Ông Văn Viết Trung Danh sách Ủy viên thường trực Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030 1. Ông Văn Công Hòa, Chủ tịch 2. Ông Văn Bá Chỉ, Phó chủ tịch thường trực 3. Ông Văn Đức Kim Dương, Phó chủ tịch 4. Ông Văn Công Hạnh, Phó chủ tịch 5. Ông Văn Hữu Duy Khánh, Ủy viên thường trực, Thủ quỹ 6. Ông Văn Hữu Kha, Ủy viên thường trực, Thư ký 7. Ông Văn Công Tâm, Ủy viên thường trực, phụ trách Tương Ái, Khuyến học, và phong trào tộc họ...

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

Liêu Thái: Ở QUÊ CÒN THẤY HỒN QUÊ?

Ở quê giờ chẳng còn mấy gì để khoe với phố, ở quê không còn trái duối dại, chẳng còn trái trâm, trái mây, ngay cả cây ổi sẻ cũng đã lai giống siêu trái... Cây đa, giếng làng, bụi tre, bến nước cũng mất dấu từ lâu, mọi sinh hoạt mang hồn quê kiểng cũng dần phai nhạt... Không chừng, bạn thấy trống rỗng. Mọi thứ tưởng chừng không còn gì. Nhưng, còn đó, còn nhiều lắm! Sáng nay, trong quán cóc đầu làng, một người khách ngoài thành phố về, ghé ngang, hỏi chủ quán có làm lúa không, có cúng cơm gạo mới không, chủ quán trả lời rằng tập tục ấy ở quê đã bỏ từ lâu. Vị khách ngồi trầm ngâm một lúc, chừng như ông ấy đang tiếc nuối một điều gì... Với tôi, tôi cảm nhận được nỗi lòng của cả người hỏi và người trả lời. Người hỏi thì tiếc, hụt hẫng, còn người trả lời thật thà bởi họ quá mệt mỏi. Trong thời đại mà mọi thứ đều phì đại, con người bị cuốn vào vòng xoáy đời sống, liên tục, mải miết, loay hoay kiếm tiền, đến khi hữu sự thì chỉ có tiền là giải quyết, ngày cúng kính, giỗ chạp, cũng phải gọi bia, gọi dịch vụ nấu cho ra dáng trịnh trọng mà kỳ thực, cái "dáng trịnh trọng" ấy lại vô hồn, mệt mỏi và tốn kém. Chính vì mệt mỏi, người ta sẽ giản lược bớt được thứ nào hay thứ ấy. Ngày xưa người nhà nông trông chờ vào cơn mưa, ngọn nắng và thời tiết, mọi thứ gắn liền Thiên - Địa - Nhân, nên lòng biết ơn Trời Đất được gửi gắm, ký thác qua mâm cúng cơm mới sau mùa thu hoạch. Còn bây giờ, không lẽ cúng tạ ông Tàu đã nhập thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, cúng tạ ông thủy lợi đã đổ nước hay sao?! Thế giới vật dục đã chiếm mất những phần niềm tin còn sót lại nơi con người. Ngay cả lũy tre làng hay cây đa, giếng nước nơi ngã ba, người ta nhìn thấy ở đó một lô góc, có thể kinh doanh, có thể xem là đất vàng, còn cây tre trong vườn, mỗi năm thu hoạch không tới vài triệu đồng, giá mỗi cây tre người ta mua chừng hai chục ngàn đồng, giá măng luộc mỗi búp chưa đầy ba chục ngàn đồng, cả một vườn tre lớn có khi bán không tới hai triệu trên một năm. Thợ tre thì đã già và chết hết rồi! Người ta nghĩ rằng nếu ủi cái bụi tre đi, biến nó thành một lô đất làm nhà thì có tiền tỉ. Người ta biết làm gì để thay đổi số phận ngoài việc cắt bớt đất để bán! Bán cho con ăn học, đổi đời, bán để mua chiếc xe mà chạy, bán để có chút tiền giằng túi, bán để có chút tiền sắm chút vàng, cho con dựng vợ, gả chồng... Những lũy tre làng mất dần do cái "thấy" từ vĩ mô đến từng gia đình. Mọi thứ ở chốn quê mất dần, may sao cau có giá, làng quê giờ có những vườn cau đẹp. Nhưng cũng đừng quên rằng năm nào cau không xuất khẩu sang Trung Quốc thì người ta phải nghĩ đến chuyện chặt bỏ cây cau vì kiến và đói. Có một thứ bất cập là Việt Nam không có đầu ra cho cây tre quê, không có đầu ra cho cây cau nếu như Trung Quốc không "ăn hàng". Giả sử nền kinh tế Việt Nam chọn Mỹ hoàn toàn thì chắc chắn hai loại sản phẩm tre, cau và có thể sau này là sen sẽ nhanh chóng mất dấu. Vì tại Mỹ không có kĩ nghệ làm kẹo cau hay làm các sản phẩm từ tre, hạt sen như Trung Quốc. Một bài toán đau đầu đối với nông nghiệp mang chất quê củi, với cái "hồn quê" xứ Việt. Nói dông dài, từ chuyện này sang chuyện khác mất rồi, ý tôi muốn nói đến cái tình quê, hồn quê. Thực ra, bây giờ vẫn còn đậm đà lắm, có những thứ mà con người có làm ra cả ngàn tỉ vẫn chưa chắc có được. Bởi tiền có thể làm ra, nhưng thứ ấy không mua được bằng tiền. Gia đình tôi có cái may mắn này, tôi vẫn sống với đầy đủ nó - Tình Quê. Ở quê, khi có miếng mít, trái chanh, trái xoài, nải chuối, ký gạo mới hay lá mì, cái bánh ú, cái bánh chưng, chục trứng gà... Người thân, bà con, hàng xóm hay cho/tặng/biếu nhau. Điều ấy như một niềm vui của cả người cho và người nhận. Tôi có ông cậu, cứ mỗi lần mít chín là ông nhớ tới nhà tôi, tôi có ba người dì, ba ông dượng, cứ mỗi lần có dầu phụng mới, gạo mới, nếp mới hay cái bánh ú, bánh chưng, bánh rò... là cho gia đình tôi một ít. Và những lúc cầm các thức quà của họ cho, vợ chồng tôi hay nói vui với nhau "giờ bỏ ra vài chỉ vàng cũng không mua được mấy cái này. Thậm chí có tiền tỉ mua cũng không có". Bởi bên trong cái bánh hay thức quà là sức nặng không thể đo lường, định dạng của Tình Quê, của tình cảm người dành cho người. Sống ở quê, đương nhiên ai cũng bươn bả, bon chen để có đồng bạc mà trang trải. Thế nhưng có những thứ không bao giờ mua được bằng tiền. Như mấy cái bánh ú mồng năm của ông dượng tôi đã gói. Thay vì mua bánh ú tro chỉ tốn hai mươi lăm ngàn đồng một chục, ông mua nếp, hái lá, ngồi hí hoáy gói bánh, nấu bánh, cúng Gia Tiên xong thì mang cho con cháu mỗi đứa vài cái... Những cái bánh ấy không thể định giá bằng tiền hay bằng bất cứ thứ vật chất nào! Và chất nếp dẽo, thơm của cái bánh quê như một loại keo dán gắn tâm hồn trẻ nít vào quê hương. Thiếu nó, người ta sẽ ít có khái niệm về quê hương hay bà con, làng xóm hơn. Bởi những thứ keo dán tuổi thơ bằng Tình Quê đeo đẳng và theo con người cho đến khi ngừng thở. Không phải vô duyên vô cớ mà nhiều người già, đến khi gần qua đời lại thèm ăn một món ăn nào đó có gắn với tuổi thơ tươi đẹp và đáng nhớ của họ. Và trong hàng trăm thứ đã bị kĩ nghệ hóa, bị biến thành loại sản phẩm du lịch hay thứ gì đó mang hơi hướm thực dụng, thì chỉ có Tình Quê, Hồn Quê là không hề suy suyễn, và nó có chỗ đứng, đất sống riêng. Ps': Quà quê trưa nay, chuối mốc, gạo mới, bánh ú của dượng nấu, dì cho...

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2024

Văn Công Hoàng: Ca khúc Thương nhớ lụa Mã Châu

Thương nhớ lụa Mã Châu. Thơ: Lê Anh Dũng. Nhạc và biểu diễn: Văn Công Hoàng. Video: Trần Ngọc Yến

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

HÒA VĂN: Mắm cá chuồn bột

 


Quảng Nam có nhiều món mắm cho dù mang nó đến bất kể vùng miền nào

không lẫn vào đâu được. Đó là nắm cá cơm than, mắm cá nục, mắm cá thính...
Tính đặc trưng của từng loại đã thành đặc sản, đến nay ai cũng biết, nếu không
nói là đã từng thưởng thức và tấm tắc khen ngon.

Ở đây xin giới thiệu một món ăn, một thời có mặt tại làng Xuân Đài (nay thuộc xã Điện Quang, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
Một dịp đến thăm bác Văn Đức Đổng (năm 2012 đã trên 80 tuổi), người làng Xuân Đài, trong buổi trò chuyện, bác nhắc đến thân mẫu của bác về tài chế biến các món ăn dân dã và phù hợp với đồng tiền bát gạo ở nông thôn những năm 1940 – 1965. Một trong món ăn mà bác nói ngon, ngon lắm là Mắm cá chuồn bột.

Độ khoảng tháng Ba âm lịch, khi con tu hú kêu rân tu hú tu hú... đó là báo hiệu mùa cá chuồn đang rộ.
Biển cửa Đợi, Hội An nơi từ lâu nổi tiếng luôn luôn có nhiều loại cá biển mà lúc nào cũng tươi và ngon như cá ngừ, cá nục, cá thu, cá sòng, cá chuồn... Lúc nầy dù có bận bịu công việc gì, người làng Xuân Đài cũng dàn xếp, rủ nhau mướn ghe bầu đi Cửa Đại mua cả chuồn. Đặc điểm quan trọng cần lưu ý, nếu mua cá chuồn về làm mắm thì có bị ươn cũng không sao, nhưng để làm cá chuồn bột nhất định phải chọn loại cá trộng con và tươi xanh mới được.
Cá chuồn làm ruột rửa sạch, vớt ra để ráo nước, cắt bỏ đầu cá, sau đó bỏ cá vào hũ sành (không được muối vào hũ đất), muối giống như muối cá cơm than hoặc cá nục. Muối dùng là loại muối hạt to, trắng. Nếu có được muối Cà Ná mua để dành vài ba năm, nay đem ra dùng càng tốt vì loại muối cũ nầy để lâu mất dần chất đắng thường có trong muối ăn. chỉ còn vị mặn tinh khiết, muối mắm càng ngon. Lượng muối theo kinh nghiệm (ba cá một muối), cứ một lớp cá vừa vừa không dày không mỏng rải một lớp muối. Việc muối cá phải nhanh gọn để tránh ruồi bâu vào dễ sinh con dòi trong hũ mắm. Cuối cùng dùng miếng vải dày bịt kín miệng hũ lại, xong đem hũ mắm vừa muối ra nơi có nắng cả ngày phơi liên tục suốt ngày đêm khoảng bốn, năm tháng, đến cỡ tháng Chín, tháng Mười âm lịch cùng năm, xử dụng được. Có một công đoạn để có tên mắm cá chuồn bột phải làm trước khi ăn, là dùng đũa vớt hết xương cá chuồn ra, sau đó ấy đũa bản to (thường hay gọi là đũa bếp), khuấy hũ mắm làm cho toàn bộ phần thân cá chuồn tơi nát ra thành bột màu đỏ sậm, đặc sánh.
Trước đó khoảng tháng Năm tháng Sáu tới mùa thơm (dứa) trồng quanh vườn nhà chín rộ, chọn thời điểm trời tạnh ráo, chọn những quả dứa ngon, gọt sạch vỏ, cắt ra từng khoanh dày độ ba phân, xâu lại thành từng xâu, đem treo phơi nắng tốt cho khô. Đây là phụ gia để bỏ vào hũ mắm cá bột thành phẩm, làm cho mắm dịu bớt độ mặn thêm ngon ngọt, những khoanh thơm ấy
sau khi thấm thóp mắm ăn ngon đáo để.
Khi kể chuyện làm mắm cá chuôn bột. Hai mắt bác Đổng mãi chớp chớp như chực khóc. Bác nói: “Kể chuyện muối mắm tôi nhớ mẹ tôi quá quý anh ạ!”. Còn những người ngồi nghe chuyện, lại chim chíp miệng. Tôi nói chen vào: "Nghe bác Đổng diễn tả cách làm mắm cá chuộn bột, thật công phu và tỉ mỉ, ai cũng phát thèm!”. Bác Đổng kết luận, những ngày mùa đông giá lạnh, những khi không đi chợ, lúc bão lụt, đến bữa cơm, dùng giá múc mắm cá bột vào chén thêm gia vị tỏi, ớt, mắm có hương vị rất thơm. Khi ăn mỗi người tự dùng đũa quẹt từng quẹt mắm nho nhỏ cho vào chén cơm nóng hổi, mà ăn thật ngon.

Ngoài ra khi cuốn bánh tráng thịt heo, bánh xèo (đặc sản Quảng Nam), mắm
cá chuồn bột được pha chế thêm một ít nước mắm nhỉ, trở thành nước chấm ngon khỏi chê!
Nếu làm đúng cách, hợp vệ sinh mắm cá chuồn bột có thể để dành ăn quanh năm.

Hòa Văn
(2012)
-----
Ảnh: Hòa Văn  và Bác Văn Đức Đổng (bìa phải)

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2023

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2024

 



Tâm sự
𝙻à𝚖 𝚝𝚑ơ 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚌𝚑ỉ 𝚝ỏ 𝚋à𝚢
𝚅𝚒ế𝚝 𝚟ă𝚗 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 để 𝚗𝚐à𝚢 𝚜𝚊𝚞 𝚕𝚞ậ𝚗 𝚋à𝚗
𝚃𝚛ó𝚝 𝚖𝚊𝚗𝚐 𝚋𝚊 𝚌𝚑ữ 𝚜à𝚗 𝚜à𝚗.
𝚇𝚒𝚗 𝚕à 𝚑ơ𝚒 𝚝𝚑ở 𝚗ồ𝚗𝚐 𝚗à𝚗 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐 𝚢ê𝚞
𝚃𝚑ơ 𝚟ă𝚗 𝚝𝚑𝚊 𝚝𝚑𝚒ế𝚝 𝚖ộ𝚝 đ𝚒ề𝚞
𝙼𝚘𝚗𝚐 𝚕ò𝚗𝚐 𝙽𝚑â𝚗 𝙽𝚐𝚑ĩ𝚊 í𝚝 𝚗𝚑𝚒ề𝚞 𝚝𝚛𝚊𝚘 𝚗𝚑𝚊𝚞.

𝙷Ò𝙰 𝚅Ă𝙽
1/1/2024

Chúc mừng năm mới 2024


 

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023

Thơ Nguyễn Văn Gia: LÊN CHÙA

 


Nhà thơ Nguyễn Văn Gia


MANG GƯƠM

Xa lắc rồi
niết bàn
Buổi thiền sư
mang gươm
Vô thường
bỗng bất thường
Niệm niệm
tâm bất an.

LÊN CHÙA

Lên chùa tìm chút thảnh thơi
Ai dè
chùa cũng như… đời ngoài kia
Cũng thứ hạng
cũng phân chia
Chỗ này vô nhiễm
chỗ kia thị trường
Đành rằng tất cả vô thường
Thôi ta về lại phố phường
ẩn tu.

Ở MỘT NƠI
CHÙA KHÔNG CÓ PHẬT


Đã hơn hai nghìn năm trăm năm
Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Thượng sầu hạ hỉ
Sao niềm vui trốn biệt nơi đâu…

Trong nhà đầy báu vật (1)
Chẳng cần tìm đâu xa
Đừng mất công tìm Phật
Thế Tôn tại lòng ta

Chùa xây trăm nghìn tỷ
Tượng ngọc tượng vàng
Võng lọng xa hoa…
Những thứ mà Thái tử Tất-đạt-đa
đã ngày xưa từ bỏ
Đã lâu không đến chùa
Bởi lòng kính ngưỡng tăng ni nhạt phai
Lòng tin bị đánh tráo
Không còn ngồi dưới hiên chùa xưa
Bình yên ngắm đám mây trôi
Lòng ngậm ngùi cái lẽ vô thường của đất trời
Tai không còn nghe
tiếng chuông sớm chuông chiều
ngân nga hồn dân tộc…

Lên chùa
với nén tâm nhang
Tam quan mách bảo
Phật đang vắng nhà
Trở về phụng dưỡng mẹ cha
Dẫu không thờ Phật
cũng là quy y

Chốn thanh tịnh trang nghiêm
Ai bày ra ồn ào lễ hội
Cầu lợi cầu danh
Buôn thần bán thánh
Chẳng thấy đâu các bậc chân tu
Chỉ thấy tràn lan những thầy bói thầy cúng
Rộn rịp dâng sao giải hạn
Thỉnh vong oan gia trái chủ
Xưa “Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật” (2)
Nay bọn giả sư hành tung như thảo khấu

Mắt Đức Phật vẫn khép hờ
với nụ cười bí ẩn
Hơn hai ngàn năm trăm năm
Giữa muôn trùng vây
và vô vàn kiếp nạn
Nơi góc biển đầu non
Vẫn sáng soi
vầng trăng chánh pháp
Những bậc chân tu ẩn mình đâu đó
Không đủ phước duyên chẳng dễ gì gặp được
Buồn thay!

Nguyễn Văn Gia
_____
(1) “Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch” (Trần Nhân Tông)
(2) “Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

Thơ Hòa Văn: 𝚃𝚁Ù𝙽𝙶 𝙺𝙷Ơ𝙸

 


𝙱𝚒ể𝚗 𝚡𝚊 𝚛𝚞 𝚖ã𝚒 𝚕ờ𝚒 𝚝𝚑ươ𝚗𝚐

𝚈ê𝚞 𝚊𝚒 𝚋ỏ 𝚡ứ 𝚟ề 𝚟ươ𝚗𝚐 𝚌á𝚝 𝚖ề𝚖


𝚃ơ 𝚝𝚛ờ𝚒 𝚝ừ𝚗𝚐 𝚐𝚒ọ𝚝 𝚜ươ𝚗𝚐 đê𝚖

𝚃𝚛ă𝚗𝚐 𝚖ờ 𝚜ó𝚗𝚐 𝚍ộ𝚒 𝚖ộ𝚝 𝚖𝚒ề𝚗 𝚗𝚑ớ 𝚗𝚑𝚞𝚗𝚐


𝙷ỏ𝚒 𝚖ê𝚗𝚑 𝚖ô𝚗𝚐 ơ𝚒 𝚕ạ𝚗𝚑 𝚕ù𝚗𝚐

𝚃𝚛ă𝚖 𝚗ă𝚖 𝚖𝚞ố𝚒 𝚖ặ𝚗 𝚝𝚛ù𝚗𝚐 𝚙𝚑ù𝚗𝚐 𝚋𝚒ể𝚗 𝚔𝚑ơ𝚒...


𝙼ộ𝚝 đờ𝚒 𝚟ơ𝚒 đầ𝚢, đầ𝚢 𝚟ơ𝚒

𝙺𝚑ô𝚗𝚐 𝚡𝚊 𝚗𝚐𝚞ồ𝚗 𝚌ộ𝚒 𝚕à 𝚗ơ𝚒 𝚝ì𝚖 𝚟ề ! 

𝙷ò𝚊 𝚅ă𝚗

Chủ Nhật, 17 tháng 12, 2023

HÒA VĂN: BÕ CAM



𝚃𝚛ó𝚝 𝚕ỡ 𝚜𝚊𝚗𝚑 𝚛𝚊 𝚝𝚛ê𝚗 𝚌õ𝚒 𝚙𝚑à𝚖 

𝚁á𝚗𝚐 𝚗í𝚞 𝚌𝚑ú𝚝 𝚕ò𝚗𝚐 𝚌𝚑𝚘 𝚋õ 𝚌𝚊𝚖                      𝙷ỏ𝚒 𝚝â𝚖 𝚝â𝚖 𝚑ỏ𝚒 𝚊𝚗 𝚗𝚑𝚒ê𝚗 𝚝𝚘ạ𝚒   

𝙱𝚒ế𝚝 𝚍ẫ𝚞 𝚍ở 𝚑𝚊𝚢 𝚌ứ 𝚟ậ𝚢 𝚕à𝚖!.

𝙷ò𝚊 𝚅ă𝚗

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

Hòa Văn: ʙᴜỔɪ ꜱÁɴɢ


"𝙿𝚑ù 𝚍𝚞 𝚑𝚒ệ𝚗 𝚝ạ𝚒 𝚙𝚑ù 𝚍𝚞

𝚁à𝚗𝚑 𝚛à𝚗𝚑 𝚔𝚑ắ𝚙 𝚌õ𝚒 𝚞 𝚞 𝚟ậ𝚢 𝚖à...


Có buổi sáng 

không dậy 


Có buổi chiều

Đêm khuya

Không dậy


Bình yên 

Đến

Lạ


Mọi việc chỉ 

nghi lễ 

Hãy để bình yên 

Hãy đặt bình yên 

Xuống 

Ngọn lửa 

lúc cháy 

tro bụi réo vang 

Khúc trở về 

Cõi Thật!


Từ đây

Buổi sáng

Mặt trời

Mọc


Suối

Sông

Bể

Chảy

Mây 

Trôi

Bình yên

Về cõi 

Thật

Tâm


ɴɢỌɴ ʟỬᴀ ɢɪẢ

ĐỐᴛ ᴄÁɪ ɢɪẢ

ᴛʜÀɴʜ

ᴛʀᴏ ʙỤɪ

ᴛʜẬᴛ!.


Hòa Văn

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

Toại Khanh: AI ĐIẾU HÒA THƯỢNG TUỆ SỸ

 


Một giọt sương rơi

Cho hiên chùa thêm quạnh

Một vầng trăng về tây

Cho biển tối thêm sâu

Một Tăng Triệu thời nay

Giũ áo qua cầu

Tiếng thạch sùng khuya

Gió lùa tàng kinh các


Cầm đèn tuệ chênh vênh

sống một đời cao sĩ

Vóc hạc gầy mong manh

hồn chứa hết tam thiên

Chí cao vợi 

cô đơn

dặm trần không tri kỷ

Phiên chợ đời phũ phàng

Sao đắt đỏ chữ duyên


Trời nam lặng một bóng người

vai gầy cõng đạo, một trời sở tri

việc xong, quẳng gậy mà đi

hổ khê áo cỏ dặm về trăng soi...


Toại Khanh

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2023

Đặng Tiến: TUỆ SỸ, ĐIỆP KHÚC DƯƠNG TRẦN



 Trước đây, mạng Diễn Đàn có giới thiệu tập thơ song ngữ Những điệp khúc cho dương cầm – Refrains pour piano – của Tuệ Sĩ, do bà Dominique de Miscault dịch ra tiếng Pháp, và minh họa trang nhã. Lúc đó, tác phẩm vừa mới in xong.


Hôm nay, tập thơ đã được phát hành và ra mắt dưới dạng một buổi tọa đàm tại Thành Phố Hồ Chí Minh, khách sạn Legend, ngày 27-9-2009, với sự hiện diện của tác giả và dịch giả.


Ngoài ra, chúng tôi được biết sách hiện có bày bán nhiều nơi tại Paris, giá 10 €uros.


Vậy xin trở lại, giới thiệu thi phẩm căn cơ hơn :


Tuệ Sĩ là bậc danh sĩ cao tăng, đã trọng nhiệm nhiều chức vụ trong hàng giáo phẩm Phật giáo Việt Nam. Trong và ngoài nước nhiều người biết danh và ái mộ, qua những trầm luân mà ông chịu đựng non nửa thế kỷ, chúng tôi không nhắc lại nơi đây, vì ai muốn truy tìm thì rất dễ.


Tuệ Sĩ còn là nhà thơ, nhiều người biết danh, nhưng ít người được đọc, vì thơ ông ít được phổ biến. Mới đây, trong nước, nhà xuất bản Phương Đông đã ấn hành tập thơ Những điệp khúc cho dương cầm, song ngữ Việt-Pháp đối chiếu, do Dominique de Miscault, nữ họa sĩ người Pháp, chuyển ngữ và trình bày, minh họa, bà gọi là « biểu cảm đồ họa » (expressions graphiques). Trang bên trái là văn bản Việt-Pháp nối tiếp, trang bên phải là hình cách điệu nhà sư đang lướt ngón tay trên phía dương cầm.


Sách gồm 23 bài thơ ngắn, trình bày trên 53 trang, khổ vuông 21 x 21 cm, giấy tốt, in đẹp và trình bày trang nhã.


Điều đáng mừng là độc giả Việt Nam và thế giới có dịp tiếp cận với thơ Tuệ Sĩ, trong niềm đồng cảm nhân loại, qua thi ca và nghệ thuật. Trong lời tựa, bà De Miscault kể lại :


« Tôi được hạnh ngộ với Tuệ Sĩ và người thân từ mùa xuân 2003.


Chúng tôi đã học tập phơi trải và trao đổi hai thế giới, diễn dịch những cảm xúc, đồng thời là dấn thân. Tôi không phải phật tử cũng không phải kẻ tu hành, lại không biết tiếng Việt, nhưng thơ Tuệ Sĩ thì đã gặp đâu đó tại châu Âu già cỗi. Đó chẳng phải là những khoảng hư không mà các tác gia thần bí đã trải nghiệm ? Kinh nghiệm phiêu du trong bóng đêm và tĩnh lặng, cũng như những tâm hồn khắc khoải, vô vọng truy tầm lời giải đáp cho những hy sinh, dù tự nguyện hay cưỡng chế ? »


Bà tiếp xúc với thơ Tuệ Sĩ nhờ việc lược dịch của một người Pháp được Tuệ Sĩ duyệt lại.


« Tôi cố gắng nắm bắt nội dung qua những hình ảnh, và không gian sống của Tuệ Sĩ như tôi được trông thấy và đã khai thị cho tôi. Tôi chọn những từ ngữ và ảnh tượng đơn giản nhất, đã giản lược và tát cạn tối đa thi pháp để tập trung vào cuộc phiêu lưu thần bí của nhà sư mệt mỏi vì đời sống và những truy tầm vô vọng…


Vô vọng hay không, vẫn là câu hỏi. Buông thả theo dòng đời.


Dương cầm và tịch lặng là thần giao giữa hai lục địa giữa chúng tôi.


Nơi đây không còn là hoài cảm hay xúc cảm, mà là phân tích khô khan cõi dửng dưng.


Tôi hân hoan được tiếp tục chia sẻ, và trong dài lâu tính nhẹ nhàng tuyệt đối của đời sống. »


Bài tựa này đã được Hạnh Viên dịch ở trang 7, tôi dịch lại để đóng góp.


Một cơ duyên khác, là với kỹ thuật điện tử hiện đại, toàn bộ công trình của TS – Dominique de Miscault và nhà xuất bản Phương Đông được đưa lên lưới, để người đọc, Việt hay ngoại quốc, khắp năm châu bốn biển đều có thể thưởng lãm. Năm mươi trang giấy không phải là công trình to tát gì, nội dung cũng không phải chuyện khai sơn phá thạch, nhưng là một sự kiện văn học, như cơn gió bất ngờ đưa đóa lan rừng ra ánh sáng.


Tuệ Sĩ không phải là người tìm danh vọng, nhất là bằng thi ca. Ông không tìm độc giả, tìm tri kỷ, tri âm. Ông thừa nội lực để sống an nhiên trong tịch lặng giữa cõi ta bà. Nhưng thơ ông xuất hiện như vầng trăng ra khỏi đám mây, như mùi hương bông sứ chợt thoảng vào vườn khuya, là một niềm vui chung, và cho người lữ khách ngồi lại bên đường, buổi chiều, « cười với nắng một ngày sao chóng thế… đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan », câu thơ ngày xưa của ông mà Bùi Giáng hết lời ca ngợi.


Thơ, thơ gì đi nữa, thì trước tiên phải là ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ai đi nữa thì cũng mang sử tính. Thơ thiền sư làm bằng ngôn ngữ hàng ngày vẫn vang âm xã hội và lịch sử.


Ví dụ bài cuối :


Giăng mộ cổ

Mưa chiều hoen ngấn lệ

Bóng điêu tàn

Huyền sử đứng trơ vơ

Sương thấm lạnh

Làn vai hờn nguyệt quế

Ôm tượng đài

Yêu suốt cõi hoang sơ.


Ý nghĩa chính xác của bài thơ là gì ta không nên giải thích chân phương. Nhưng từ ngữ thì rõ ràng là trầm tích đau thương của con người trong lịch sử. Bà De Miscault dịch hay và thoát (xem Trên kệ sách của mạng Da màu). Tôi vẫn táy máy dịch lại xem như góp một nốt đàn vào bản hợp tấu :


Sur les tombes antiques

La pluie du soir se confond en larmes

Des mythes illusoires

En ruine esseulés,

La bruine givre

Les épaules meurtries de laurier

Serrant la statue

J’aime ô que j’aime les espaces innocents


Trầm tích lịch sử còn dư vang rõ hơn trong bài này ;


Ngoài biên cương

Cây cao chói đỏ

Chiến binh già cổ mộ

Nắng tắt chiến trường

Giọt máu quạnh hơi sương


Tr. 34


A la frontière

Le grand arbre rougeoie

Le soldat vieillit sur la tombe antique

Le soleil éteint la bataille

Le sang se condense en rosée.


Thơ gì, thơ ai, thơ nước nào, trong ngôn ngữ vẫn là một thứ ngoại ngữ ; người đọc một bài thơ trong tiếng mẹ đẻ là đã dịch bài thơ ấy ra ngôn ngữ của riêng mình. Gọi là tiếng lòng.


Trong nghề dạy học và việc bình luận văn chương tôi có đôi kinh nghiệm về việc dịch thuật và thông ngôn này. Gặp những bài thơ Tuệ Sĩ việc giảng luận có phần trắc trở. Ngôn ngữ vẫn là ngôn ngữ chung là tiếng Việt, nhưng tương quan giữa người nói và lời nói thì khác nhau. Khi Tuệ Sĩ viết đâu đó « Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang » thì ông không chỉ nói về màu áo, cũng không nói về ngọn đồi, mà phản ánh tâm linh trong một thế giới khác. Đưa lời thơ Tuệ Sĩ vào ngôn ngữ thế tục e dễ thành dung tục.


Thơ bao giờ cũng phản ánh ba tính cách : môi trường xã hội trong lịch sử ; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại ; và tác giả, qua đời sống hàng ngày ; nhưng ở Tuệ Sĩ đời sống hằng ngày, ý thức và vô thức dường như đã thăng hoa, thành một siêu thức. Ngôn ngữ do đó cũng siêu thoát, khó bề lý giải chân phưong và đơn phương.


Đầu thế kỷ XX giới văn học tây phương đưa ra khái niệm «  thơ thuần túy », và nghệ thuật nguyên chất theo nghĩa của hóa học : thực thể nguyên chất đối lập với những thực thể tạp chất « impur », có lẫn lộn nhiều ngoại tố. Nghệ thuật nguyên chất là kiến trúc của ngôn ngữ : một dạo khúc dương cầm, một tranh tĩnh vật, một bài thơ đẹp. Người thưởng thức không pha lẫn vào đó những kỷ niệm, buồn vui riêng tư, nhất là những thành kiến lịch sử, chính trị. Yêu một chân dung phụ nữ không phải vì nó hao hao giống một người bạn cũ.


Trong nghệ thuật, dân tộc là một tạp chất.


Tôi nghĩ khi Tuệ Sĩ đặt tên Những điệp khúc cho dương cầm, và làm những bài thơ mô tả tiếng dương cầm, là ông muốn cho tiếng thơ mình trong trẻo, thuần khiết « trong như tiếng hạc bay qua ». Do đó, bình giải thơ Tuệ Sĩ là tạo cơ nguy gây tạp âm không phải lẽ và không phải lúc. Bài viết này vẫn mang tạp âm là ngoài ý muốn của chúng tôi.


Lấy một ví dụ ngoài đề, cho thông thoáng. Nhà thơ Phạm công Thiện, thời trẻ, có lúc tu tại một Phật Viện Nha Trang. Một hôm anh về chơi với nhà văn Võ Hồng, ở lại mấy hôm, khi về Chùa, anh có thơ :


Mưa chiều thứ bảy, tôi về muộn

Cây khế đồi cao trổ hết bông.


Anh tâm đắc thường đọc cho chúng tôi nghe, và chúng tôi hiểu đại khái, nhưng chưng hửng khi nghe Phạm Công Thiện, mười năm sau, tự dịch câu thơ ra tiếng Pháp :


Je suis le Retour

Il fait Tard sur le Chemin

Sept jours après la pluie tombe

En haut

du Temple

L’arbre est le

Défleuri


Chúng tôi đã hiểu chung chung : thứ bảy là trước chủ nhật, cây khế là cây khế, ngọn đồi là ngọn đồi, nhưng qua bản dịch tiếng Pháp, thì nội hàm câu thơ không phải chỉ có vậy.


Nhưng nghĩ cho cùng, ai làm sao hiểu hết một câu thơ, kể cả tác giả ?


Và cách tiếp cận thơ Tuệ Sĩ của bà De Miscault biết đâu là cách hay nhất, như câu tiếng Pháp không biết của ai « la voix du cœur est la voie au cœur » : lời trái tim là lối đến con tim.


Đọc thơ Tuệ Sĩ. Bằng trái tim. Nỗi Nhớ


Màu tối mù lan vách đá

Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ

Rồi đi biệt

Để hờn trên đỉnh gíó

Ta ở đâu ?

Cánh mộng phù du


Tr. 18


Les ténèbres envahissant les pierres du mur

Immense le souvenir des regards de nos adieux

Et je m’en vais à jamais

Délaissant les chagrins aux cimes de l’ouragan

Où suis-je ?

Frêles sont les ailes de l’éphémère


Tình người :


Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói,

Vẫn yêu người từ khoảnh khắc chiêm bao

Từ nguyên sơ đã một lời không nói

Nhưng trùng dương ngưng đọng cánh hoa đào

Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi

Vì yêu người ta vói bắt trời sao.


Tr. 50


Sur mes chagrins enfumés, je revis

L’Amour des hommes à chaque instant de mes songes

Dès l’origine la parole a été retenue

Comme l’océan retient le reflet du printemps en fleur

Des refrains animent mes ailes épuisées

Pour l’Homme, j’ouvre mes mains au firmament étoilé


Trần thế :


Theo chân kiến

Luồn qua cụm cỏ

Bóng âm u

Thế giới chập chùng

Quãng im lặng

Nghe mùi đất thở


Tr. 46


Traces de fourmi

Je faufile entre les herbes

Ténèbres des ténèbres

Les mondes s’amoncellent

Silences entre silences

J’accueille la terre respirante.


Thơ Tuệ Sĩ cô đúc, hàm súc, uyên áo. Người đọc không quen cho là khó hiểu, vì tác giả không đề cập đến một đề tài nào chính xác, không miêu tả không tự sự. Ngôn ngữ lấp lánh ánh sáng tâm cảm và ngoại giới, trầm tư và huyễn mộng. Hình ảnh chập chờn, ngôn từ lảo đảo, như những tiếng dương cầm đuổi bắt nhau, chưa kịp tương phùng đã muôn đời vĩnh quyết.


Thỉnh thoảng, người đọc cảm thấy an tâm trong đôi lời thơ mạch lạc :


Cửa kín chòm mây cuốn nẻo xa

Ngu ngơ đếm chữ, mắt hoa nhòa

Tay buồn vuốt mãi tờ hương rã

Phảng phất mưa qua mấy cụm nhà


Tr. 26


Người Thơ hé mở một thoáng tâm linh, nhưng hình ảnh vẫn mang tính cách tượng trưng, xa cách, xóa nhòa tâm sự cá nhân, pha loãng tình riêng vào làn mưa trên mái ngói.


Đôi khi người đọc gặp vài từ ngữ, ẩn dụ trở đi trở lại như những ám ảnh, tạo nên dăm viên đá cuội trên lộ trình cậu bé tí hon, nhưng dễ gì tìm được heo hút đường về.


Ngoại giới biết đâu là ảo giác :


Bóng sao đêm dài vời vợi

Thật hay hư, chiều nhỏ ưu phiền


Tr. 10


Và thơ, tập thơ mình cầm trong tay, những nốt nhạc, những hàng chữ  « đen trắng đuổi nhau thảnh ảo tượng ». Thơ, tất cả thi ca trên cõi trần này biết đâu chẳng là ảo giác của ảo giác ?


Cần gì để nói thêm về Những điệp khúc cho Dương cầm của Tuệ Sĩ ?.


Phải chăng là tiếng ve sầu chung thủy, ưu hoài những mùa hạ đã ra đi ?.


Tiếng ve trở về,


Khóc mùa hè mà khô cả đại dương


Đặng Tiến,

Orleans 17/8/2009.

Cập nhật 02-10-2009


Nguồn: diendan.org


Tuệ Sỹ: ℂÁℕℍ ℂℍ𝕀𝕄 𝕋ℝỜ𝕀



Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch 1943 - 2023)

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, vị giáo phẩm uyên bác, dịch giả của nhiều bộ kinh, luận quan trọng; tác giả của các công trình nghiên cứu Phật học giá trị, sau thời gian bệnh duyên đã viên tịch tại chùa Phật Ân (tỉnh Đồng Nai) vào 16 giờ chiều ngày 24/11/2023 (12-10-Quý Mão).

#baogiacngo

Xin đăng 1 bài thơ của Ngài:

CÁNH CHIM TRỜI

Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào
Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc
Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao
Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu
Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.

Tuệ Sỹ
(Giấc mơ Trường Sơn, An Tiêm xuất bản, California, 2002.)