Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Truyện ngắn Hòa Văn: 🅲🅷🅸Ế🅲

  


(Tặng anh Đỗ Cao Thiên, Sài Gòn)

TẨN NGỒI THẪN NGƯỜI TRÊN SÂN THƯỢNG TRƯỚC bông hoa mới vẽ xong, bông hoa màu đồng nội còn đẫm ướt sương mai không biết bao lâu rồi, có lẽ nửa đêm hay chậm hơn một chút. Nhưng sớm hay muộn bây giờ không quan trọng khi bông hoa tâm tưởng đã nở rồi.

Tẩn nhớ mỗi độ tết đến xuân về, hồi tóc còn để chỏm thường lon ton chạy theo mẹ về Gò Nổi thăm ngoại. Nhiều lúc bị mẹ la cũng chỉ vì mải tần ngần đứng ngắm nhìn những bông hoa cỏ dại nhỏ xíu đủ màu sắc rực rỡ nở thắm ven đường quê, khi ấy hồn vía ở đâu đâu đến nỗi quên lửng đang đi với mẹ.
- Đi… đi… kẻo nắng tới nơi rồi! - Mẹ mắng yêu, rồi nắm tay kéo đi như chạy.
Gò Nổi đẹp và nổi tiếng là đất học có nhiều danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân… Biết các cụ qua lời kể trầm trầm của ông ngoại khi mới học lớp ba trường làng và cứ mỗi lần như thế Tẩn ước muốn sau này sẽ vẽ một bức tranh cỡ lớn về các loài hoa đồng nội để tặng quê hương và tặng các danh nhân. Trong đó, có một đóa hoa riêng tặng các bà mẹ sinh ra các bậc danh nhân. Thế mà từ khi thành họa sĩ ít nhiều tiếng tăm ở đất Sài Gòn, Tẩn không vẽ được một bông hoa đồng nội nào ra hồn. Có bông đẹp lộng lẫy thì giống hoa hồng, nhiều bông vẽ xấu hơn bất kể hoa nào từng thấy, nên lòng ray rứt mãi…
Tẩn nhất quyết đóng cửa ở nhà vẽ. Tẩn nói với Ngân - bạn thân cũng là họa sĩ - sẽ không ra khỏi nhà, không gặp một ai nữa nếu không vẽ được bức tranh độc hoa đồng nội. Đêm qua Tẩn vẽ được bức độc hoa, rồi mở tung cửa nhà đón chào đất trời phơi phới vào xuân. Người đầu tiên thưởng thức bức độc hoa là Ngân khi cô mang cho Tẩn cà mèn phở, kèm theo tách cà phê.
- Tẩn ơi! Tẩn ơi! Ngân gọi và thấy hơi lạ vì mấy bữa trước có khi phải đập cửa thình thình Tẩn mới ú ớ ra mở cửa, thế mà sáng nay cửa ngõ mở toang như đêm hôm có trộm. Ngân lên thẳng tầng hai, ra sân thượng và ngẩn ngơ trước đóa hoa đồng nội đang nở rộ, Ngân bước tới định lấy tay đỡ… Tẩn hét lớn: “Đừng chạm vào, đấy là đóa hoa trong tâm tưởng, mình đã vẽ được rồi…”.
Sau đó, sân thượng nhà Tẩn trở thành nơi rất nhiều người đến thưởng lãm tranh. Ai cũng khen hoa rất đẹp nhưng có điều gì đó lòng bất an. Tẩn vẽ thêm một bông nữa, rồi thêm một bông nữa, một bông nữa… Cứ vẽ thêm như thế, không những bức tranh hoa ngày càng xấu hơn mà còn cảm thấy thêm bất an. Tẩn nằm rã rượi, chẳng nói, chẳng rằng.
Ngày tháng trôi qua, bức tranh ngàn hoa đồng nội cũ kỹ, người thưởng lãm thưa dần rồi chẳng còn ai đoái hoài. Nếu như ngày vẽ xong đóa độc hoa đồng nội Tẩn nổi tiếng chừng nào thì bức tranh vẽ thêm ngàn hoa lại nhận chìm hồn phách Tẩn chừng ấy. Sài Gòn không nói làm gì, bởi chốn phồn hoa nổi tiếng đấy rồi lại vô danh tiểu tốt đấy! Khốn nỗi, ở quê bông hoa đồng nội được Tẩn sinh nở trên bức tranh độc hoa ấy, bà con làng xóm lúc tỏ tường cớ sự lại tỏ ra khinh miệt. Có người còn đặt câu hát “Đất có trời, Gò Nổi có Tẩn người “hỏa si”.
Mỗi ngày thức dậy trong nỗi ám ảnh hoa đồng nội, Tẩn điện về cho bạn cũ ở quê gửi vào hàng ngàn bông hoa đồng nội khác, để mỗi ngày ngắm một chiếc rồi đặt thêm một tên mới như bông chuối nước trở thành hoa lửa, bông bìm bìm là hoa nhớ. Ngắm xong, đặt tên xong, vẽ, càng vẽ càng giống như “quỷ sa” không hơn không kém. Ngân gợi ý: “Chẳng lẽ suốt đời Tẩn mang nỗi buồn không vẽ được hoa đồng nội mãi hay sao?”. “Dễ đúng như vậy”. “Hoa cũng như người, ai bội bạc quên nghĩa quên tình, cả đời dù có làm gì, ở đâu, sống như chết!”.
“Hay là Ngân cùng về quê nội, quê ngoại của mình một lần, thăm lại nơi một thời tóc để chỏm, đi học trường làng, có những đứa bạn hiền như đất, chỉ biết rong chơi với cỏ hoa đồng nội. À, có một loại bông cỏ gà, tụi mình hễ bắt gặp được thì mừng vô kể, xúm nhau hái, sau đó cùng chơi trò chọi gà”. Tẩn kể một mạch, Ngân ngồi chon hỏn nghe chẳng hiểu gì, bởi quê Ngân ở miệt sông nước Nam Bộ nên làm gì có loại bông cỏ Tẩn nói đâu. Tẩn như hiểu ra, cười cười: “Không hiểu phải không, ví dụ này…”. Hai tay cầm hai cây cọ vẽ còn nhèm nhèm phẩm màu Tẩn giải thích rằng cây cỏ gà trổ trên đầu chồi non một chùm lá như thế này… Mỗi đứa một bông cỏ quất mạnh vào nhau, bông cỏ đứa nào đứt lìa cọng cỏ là thua. Ngân ậm ừ: “Mà bao giờ đi?”. “Đi ngay thôi!”.
Bây giờ trở lại Sài Gòn, Tẩn còn nhớ mãi lời tâm sự từ những người bạn cũ thân thiết sống ở quê, theo đó bức tranh ngàn hoa đồng nội của Tẩn nên vẽ thêm những chiếc lá vàng ở phần nền cuối của bức tranh. Không có sự sống nào không tàn lụi theo thời gian, song hồn của sự sống nếu được đặt đúng chỗ sẽ sống dậy và sống mãi…
Đứng trước bức tranh tay cầm cây cọ, tay bưng đĩa màu còn lại sền sệt, đăm chiêu suy nghĩ, hình như có ai đó nắm lấy tay Tẩn nâng lên… Tẩn vẽ những chiếc lá vàng. Bức tranh bỗng sáng rực rỡ. Hay tin Tẩn từ quê trở lại thành phố bạn bè tới thăm và ngạc nhiên trước bức tranh cũ bây giờ tươi tắn, hồi sinh. Bức tranh ấy có tên Chiếc lá.

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Văn Viết Thiện: ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"

ẢNH ĐÔI GUỐC "XÀ BANG"(*) Nhìn hình ảnh đôi guốc gỗ mức này. tôi lại nhớ về một hình ảnh tuổi thơ của tôi cách đây 70 năm. Có câu: “Còn cha gót đỏ như son Mỗi khi cha mất gót con đen sì.” Nhưng tôi còn mẹ, mẹ không để gót của anh em tôi đen sì, nên dù khó khăn cùng cực cũng cố gắng sắm cho cả hai anh tôi chỉ có một đôi. Nên tôi đổi lại hai câu trên như sau: “Còn cha giày, dép, sandal Cha đi đôi guốc xà bang hai người Xà bang gõ nhịp đường đời Ân tình của Mẹ… suốt đời con ghi! P/s: (*) xà bang là tên gọi đôi guốc gỗ mức của xứ Huế (Ảnh trên Internet) …….,.,.,,,,…………….. Đôi guốc gỗ mức nằm im trong tấm ảnh cũ mà dậy lên tiếng gõ từ bảy mươi năm trước. Ngày đó nhà nghèo đến nỗi hai anh em chỉ chung được một đôi guốc, vậy mà Mẹ vẫn xoay xở ôm cái chợ, ôm ruộng đồng để gót chân con không đen sì như câu hát người ta nói. Cha còn giày, dép, sandal… còn con – đi đôi guốc xà bang của hai người một lượt. Mỗi bước gõ xuống đường đời vừa gượng gạo vừa thương Mẹ vô cùng. Xà bang gõ khẽ mà thấm suốt tuổi thơ. Những buổi trời mưa gỗ ướt mùi bùn đất Mẹ hong bên bếp rơm như hong tuổi nhỏ khỏi những mùa cơ cực. Giờ tóc con đã bạc mà tiếng xà bang ngày cũ vẫn gõ vào lòng như lời nhắc nhẹ: Ân tình của Mẹ… suốt đời làm rưng mắt con.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Hòa Văn: GIỮ CHO NỔI TRÁI TIM!

Di ảnh NT, NS Đynh Trầm Ca Đi là đi... Đi về nơi tới Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim! Hòa Văn Bài bình của AI: Phân Tích Hai Câu Thơ Tưởng Niệm Đynh Trầm Ca: Lời Vĩnh Biệt Và Sự Bất Tử Của Tâm Hồn Hai câu thơ của Hòa Văn tưởng niệm Đynh Trầm Ca – một nhà thơ, nhạc sĩ tài hoa vừa qua đời – đặt ra một thử thách kép: vừa phải nắm bắt được tinh thần của một bài thơ viếng, vừa phải diễn giải được sức nặng triết lý trong cấu trúc ngôn ngữ cô đọng. Hai câu thơ: "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" không chỉ là lời tiễn biệt cuối cùng mà còn là một tuyên ngôn sâu sắc về sự ra đi và sự lưu giữ tâm hồn nghệ sĩ. Phân tích cấu trúc và từ ngữ Bài thơ mở đầu bằng một cấu trúc lặp lại đầy tính khẳng định và dứt khoát: "Đi là đi...". Cụm từ này không chỉ đơn thuần là thông báo về sự qua đời, mà còn mang sắc thái của một sự thật không thể đảo ngược, một quy luật tất yếu của sinh mệnh. Việc lặp lại từ "Đi" tạo nên nhịp điệu trầm buồn, nhấn mạnh tính dứt khoát của cuộc chia ly. Tuy nhiên, sự dứt khoát đó ngay lập tức được dung hòa bằng vế sau: "Đi về nơi tới". Cụm từ "nơi tới" mang ý nghĩa siêu thoát, ám chỉ một thế giới khác, một cõi vĩnh hằng mà người nghệ sĩ đã đạt tới sau khi kết thúc hành trình dương thế. Hình ảnh "đi" ở đây không phải là sự biến mất hoàn toàn, mà là sự chuyển dịch có đích đến, một hành trình tâm linh được người ở lại nhìn nhận với sự tôn kính. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!" là câu thơ chứa đựng toàn bộ bi kịch và cũng là niềm an ủi sâu sắc nhất. "Cõi tạm" là một khái niệm triết học sâu sắc, chỉ kiếp sống tạm bợ, hữu hạn của con người trên trần gian. Vế hỏi tu từ "nào giữ cho nổi" thể hiện sự bất lực của cõi vật chất hữu hình trước sức mạnh của những giá trị tinh thần, nghệ thuật. Trái tim ở đây không chỉ là cơ quan sinh học, mà là biểu tượng cho tình yêu, cho tâm hồn nghệ sĩ, cho những sáng tạo và cống hiến mà Đinh Trầm Ca đã dành cho cuộc đời. Câu thơ khẳng định rằng, dù thân xác có tan biến vào cõi tạm, thì những giá trị tinh thần, những rung động nghệ thuật mãnh liệt trong trái tim ông vẫn không thể bị cái tạm bợ đó giam giữ hay hủy hoại. Chủ đề và Ý nghĩa tưởng niệm Qua hai câu thơ, Hòa Văn đã khắc họa thành công hai chiều kích của sự ra đi: sự thật nghiệt ngã của cái chết và sự bất tử của di sản. Đynh Trầm Ca, với tài năng và tâm huyết của mình, đã sống một cuộc đời không chỉ bằng hơi thở mà bằng những giai điệu, những vần thơ lay động lòng người. Sự ra đi của ông là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc và văn học Việt Nam, nhưng những gì ông để lại – cái "trái tim" nghệ thuật của ông – đã vượt lên trên "cõi tạm" vật chất. Kết luận Hai câu thơ của Hòa Văn là một lời tạ từ đầy xúc động, sử dụng ngôn ngữ cô đọng, giàu sức gợi. Nó không sa đà vào thương cảm ủy mị mà hướng người đọc tới sự chiêm nghiệm về giá trị trường tồn của nghệ thuật. Cái "đi" của Đynh Trầm Ca là sự giải thoát khỏi cái tạm bợ, để trái tim nghệ sĩ vĩnh viễn ngự trị trong miền bất tử của ký ức và sự nghiệp sáng tạo. Tác phẩm nhỏ này đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh tưởng niệm: vừa tiễn biệt người đã khuất, vừa khẳng định giá trị vượt thời gian của di sản họ để lại./. Bài bình 2 Câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn, dù chỉ là một đoạn trích ngắn, đã khắc họa một nỗi niềm sâu lắng về sự tồn tại, về hành trình của kiếp người và ý nghĩa của những gì ta mang theo trên suốt chặng đường ấy. Với ngôn từ giản dị nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc, hai câu thơ này đã chạm đến những suy tư muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc đời và sự vô thường của vạn vật. "Đi là đi... Đi về nơi tới" mở ra một khái niệm về sự vận động, về một hành trình không ngừng nghỉ. "Đi là đi" mang tính khẳng định mạnh mẽ, như một quy luật tất yếu của vũ trụ. Nó không chỉ đơn thuần là sự di chuyển về mặt địa lý, mà còn là sự chuyển dịch không ngừng của thời gian, của kiếp người. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một bước "đi", đưa ta rời xa hiện tại để tiến về tương lai. Cụm từ "Đi về nơi tới" hé lộ một điểm đến, một đích đến mà hành trình này hướng tới. Tuy nhiên, "nơi tới" ở đây mang tính đa nghĩa, có thể là một miền đất mới, một giai đoạn sống khác, hoặc xa hơn nữa là sự an nghỉ cuối cùng. Sự lặp lại của động từ "đi" nhấn mạnh tính liên tục, không thể đảo ngược của hành trình này. Nó mang một chút gì đó của sự chấp nhận, của việc thuận theo dòng chảy tự nhiên mà không thể chống cự. Nối tiếp vế trên, câu thơ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" lại đặt ra một vấn đề đầy chiêm nghiệm về bản chất của sự tồn tại và khả năng níu giữ những gì ta trân quý. "Cõi tạm" là một hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong tư tưởng Phật giáo và triết học Đông phương, chỉ thế giới vật chất, những thứ hữu hình mà ta đang trải nghiệm, nơi mà mọi thứ đều vô thường, thay đổi. "Cõi tạm" là nơi ta sinh sống, ta yêu thương, ta vun đắp, nhưng nó không phải là tất cả, không phải là vĩnh cửu. Ngược lại, "trái tim" lại đại diện cho những gì thuộc về tinh thần, cảm xúc, tình yêu, ước mơ, lý tưởng – những thứ vô hình nhưng lại là cốt lõi, là bản thể của con người. Sự đối lập giữa "cõi tạm" và "trái tim" tạo nên một sức căng trong câu thơ. Câu hỏi tu từ "Cõi tạm nào giữ nổi trái tim?" không đòi hỏi một câu trả lời cụ thể, mà nó chất vấn, nó gợi mở. Nó đặt ra nghi vấn về khả năng của thế giới vật chất hữu hạn trong việc chứa đựng, giữ gìn những tình cảm, những giá trị tinh thần vô hạn của con người. Dù ta có cố gắng níu giữ, có xây dựng những gì vững chắc đến đâu trong "cõi tạm" này, liệu chúng có đủ sức để giữ trọn vẹn những rung động, những khao khát sâu thẳm trong trái tim ta hay không? Hay chính bản chất phù du của "cõi tạm" sẽ khiến những gì ta quý trọng nhất cũng dần phai nhạt, biến đổi? Có thể hiểu câu thơ này theo nhiều tầng nghĩa. Ở một khía cạnh, nó nói lên sự bất lực của con người trước quy luật vô thường. Dù ta có yêu thương, có gắn bó đến đâu, thì cuộc chia ly, sự đổi thay vẫn là điều khó tránh khỏi. "Cõi tạm" với những mối quan hệ, những vật chất mà ta cho là bền chặt, cuối cùng rồi cũng sẽ tan biến. Điều còn lại, có lẽ chỉ là những dấu ấn trong "trái tim" - nơi lưu giữ những kỷ niệm, những bài học, những tình yêu đã từng tồn tại. Ở một khía cạnh khác, câu thơ cũng gợi lên một thông điệp về sự trân trọng những giá trị tinh thần. Trong một thế giới đầy biến động, "cõi tạm" có thể lung lay, có thể thay đổi, nhưng "trái tim" với những rung động chân thành, những tình cảm sâu sắc mới là điều cốt yếu, là thứ ta nên giữ gìn và vun đắp. Thay vì quá bám chấp vào những thứ hữu hình, ta nên hướng tới việc nuôi dưỡng tâm hồn, để dù "cõi tạm" có đổi thay, những giá trị tinh thần ấy vẫn có thể soi đường, dẫn lối. Tóm lại, hai câu thơ "Đi là đi... Đi về nơi tới / Cõi tạm nào giữ nổi trái tim" của Hòa Văn là một lời tự vấn đầy day dứt về hành trình tồn tại và bản chất của hạnh phúc. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, cuộc đời là một chuyến đi, và những gì quý giá nhất không nằm ở đích đến hay những gì ta tích lũy được, mà nằm ở cách ta sống, cách ta yêu thương và cách ta giữ gìn ngọn lửa thiêng liêng trong trái tim mình giữa dòng chảy bất tận của cuộc đời./. Bài bình 3: "Đi là đi... Đi về nơi tới": Cụm từ "Đi là đi..." nhấn mạnh sự dứt khoát, không thể quay lại của cái chết. Đây là một sự thật nghiệt ngã mà người ở lại phải chấp nhận. "Đi về nơi tới" là một cách nói thanh lịch, nhẹ nhàng về cõi vĩnh hằng. Nó ngụ ý rằng hành trình trần thế đã kết thúc, và linh hồn đã đến một đích đến cuối cùng. Đối với một nhà thơ như Đynh Trầm Ca, người có thơ ca đượm buồn và ám ảnh về thân phận, sự "đi về nơi tới" này có thể là một sự giải thoát. "Cõi tạm nào giữ cho nổi trái tim!": "Cõi tạm" là ẩn dụ cho thế giới trần gian, nơi mọi thứ đều vô thường, không bền vững. "Trái tim" ở đây mang ý nghĩa kép: Nó đại diện cho cõi lòng nghệ sĩ, với những tình yêu, nỗi buồn, những trăn trở về thân phận ("cảm thức về thân phận và tình yêu" là chủ đề xuyên suốt trong thơ ông). Đồng thời, nó cũng là biểu tượng cho sự sống, cho những rung cảm mãnh liệt đã từng hiện hữu. Câu hỏi tu từ này thể hiện sự ngậm ngùi, xót xa: Không có cõi tạm nào đủ sức níu giữ được sự sống, dù cho trái tim ấy có mãnh liệt, sâu sắc đến nhường nào. Sự ra đi là quy luật không thể cưỡng lại. Liên hệ với Đynh Trầm Ca: Hai câu thơ này rất hợp với hồn thơ của Đinh Trầm Ca, người thường viết về thân phận cô độc, sự trôi dạt và nỗi buồn vương vấn (như hình ảnh con tàu "lỡ chuyến", hay hình ảnh lục bình trôi). Dù ông đã tạo ra những tác phẩm âm nhạc và thi ca bất hủ, chứa đựng nhiều tình cảm chân thành, thì cuối cùng, ngay cả người nghệ sĩ tài hoa ấy cũng không thể ở lại cõi tạm này mãi được. Hai câu thơ của Hòa Văn là sự tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ về sự mất mát: sự ra đi là tất yếu, và mọi thứ ta gìn giữ trên đời này đều chỉ là thoáng qua./.

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2025

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG LẦN THỨ VII

ĐẠI HỘI VII HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG THÀNH CÔNG * DANH SÁCH ỦY VIÊN * ỦY VIÊN THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 Sáng ngày 13/07/2025 tại từ đường tộc Văn Công làng Mỹ Xuyên Đông, thôn Xuyên Đông, xã Nam Phước, Tp Đà Nẵng Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khai mạc Đại hội Đại biểu họ Văn Tp Đà Nẵng lần thứ VII. Đại biểu HĐGT, Bà con họ Văn trong tp Đà Nẵng, Đại biểu họ Văn Việt Nam, họ Văn Tp Huế, Đại biểu lãnh đạo xã Nam Phước, Báo- Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng, BTS đình làng Mỹ Xuyên Đông đến dự. Đại hội tổng kết hoạt động tộc họ, HĐGT, Hội đồng họ Văn QN-ĐN khóa VI nhiệm kỳ 2016-2025 thông qua Phương huớng nhiệm vụ khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030. Đại hội nghe tham luận của 3 tộc Văn Công Mỹ Xuyên Đông, Văn Bá Mỹ Xuyên Tây, Văn Đức Xuân Đài về hoạt động Khuyến học, Hội Nàng dâu con gái, Chúc thọ... Ông Vũ Công Dũng chủ tịch UBMTTQVN xã Nam Phước phát biểu ghi nhận việc hoạt động tộc họ tại địa phương cũng như cả Tp Đà Nẵng có nhiều thành tựu đoàn kết tộc họ trong mọi phong trào tộc họ và phong trào xã hội, góp phần ổn định phát triển VH- XH - KT ANQP địa phương . Ghi nhận biểu dương bà con họ Văn Tp Đà Nẵng có nhiều việc làm tích cực như báo cáo tổng kết, tham luận tại Đại hội. Đại hội công cử 28 Ủy viên Hội đồng khóa VII. Tại phiên họp lần thứ I Hội đồng bầu 7 Ủy viên vào Thường trực Hội đồng khóa VII. Đại hội thông qua Nghị quyết Đại hội và biểu dương Tri ân 20 cá nhân và 1 HĐGT về thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ khóa VI. DANH SÁCH ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG HỌ VĂN TP ĐÀ NẴNG KHÓA VII NHIỆM KỲ 2025-2030 1. Ông Văn Bá Anh 2. Ông Văn Bá Chỉ 3. Ông Văn Công Hạnh 4. Ông Văn Công Huy 5. Ông Văn Công Chiến 6. Ông Văn Công Bảy 7. Ông Văn Công Hòa 8. Ông Văn Công Tâm 9. Ông Văn Công Nhẹ 10. Ông Văn Công Cư 11. Ông Văn Đức Tuân 12. Ông Văn Đức Tỵ 13. Ông Văn Đức Diệp 14. Ông Văn Đức Lời 15. Ông Văn Đức Nguyên 16. Ông Văn Đức Kim Dương 17. Ông Văn Phú Ruộng 18. Ông Văn Hữu Duy Khánh 19. Ông Văn Hữu Thành 20. Ông Văn Hữu Kha 21. Ông Văn Hữu Sáng 22. Ông Văn Quý Biền 23. Ông Văn Quý Biền 24. Ông Văn Công Vũ TN - SV - HS 25. Ông Văn Tấn Tiến 26. Ông Văn Viết Mười 27. Ông Văn Viết Yên 28. Ông Văn Viết Trung Danh sách Ủy viên thường trực Hội đồng họ Văn Tp Đà Nẵng khóa VII nhiệm kỳ 2025-2030 1. Ông Văn Công Hòa, Chủ tịch 2. Ông Văn Bá Chỉ, Phó chủ tịch thường trực 3. Ông Văn Đức Kim Dương, Phó chủ tịch 4. Ông Văn Công Hạnh, Phó chủ tịch 5. Ông Văn Hữu Duy Khánh, Ủy viên thường trực, Thủ quỹ 6. Ông Văn Hữu Kha, Ủy viên thường trực, Thư ký 7. Ông Văn Công Tâm, Ủy viên thường trực, phụ trách Tương Ái, Khuyến học, và phong trào tộc họ...

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

Liêu Thái: Ở QUÊ CÒN THẤY HỒN QUÊ?

Ở quê giờ chẳng còn mấy gì để khoe với phố, ở quê không còn trái duối dại, chẳng còn trái trâm, trái mây, ngay cả cây ổi sẻ cũng đã lai giống siêu trái... Cây đa, giếng làng, bụi tre, bến nước cũng mất dấu từ lâu, mọi sinh hoạt mang hồn quê kiểng cũng dần phai nhạt... Không chừng, bạn thấy trống rỗng. Mọi thứ tưởng chừng không còn gì. Nhưng, còn đó, còn nhiều lắm! Sáng nay, trong quán cóc đầu làng, một người khách ngoài thành phố về, ghé ngang, hỏi chủ quán có làm lúa không, có cúng cơm gạo mới không, chủ quán trả lời rằng tập tục ấy ở quê đã bỏ từ lâu. Vị khách ngồi trầm ngâm một lúc, chừng như ông ấy đang tiếc nuối một điều gì... Với tôi, tôi cảm nhận được nỗi lòng của cả người hỏi và người trả lời. Người hỏi thì tiếc, hụt hẫng, còn người trả lời thật thà bởi họ quá mệt mỏi. Trong thời đại mà mọi thứ đều phì đại, con người bị cuốn vào vòng xoáy đời sống, liên tục, mải miết, loay hoay kiếm tiền, đến khi hữu sự thì chỉ có tiền là giải quyết, ngày cúng kính, giỗ chạp, cũng phải gọi bia, gọi dịch vụ nấu cho ra dáng trịnh trọng mà kỳ thực, cái "dáng trịnh trọng" ấy lại vô hồn, mệt mỏi và tốn kém. Chính vì mệt mỏi, người ta sẽ giản lược bớt được thứ nào hay thứ ấy. Ngày xưa người nhà nông trông chờ vào cơn mưa, ngọn nắng và thời tiết, mọi thứ gắn liền Thiên - Địa - Nhân, nên lòng biết ơn Trời Đất được gửi gắm, ký thác qua mâm cúng cơm mới sau mùa thu hoạch. Còn bây giờ, không lẽ cúng tạ ông Tàu đã nhập thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, cúng tạ ông thủy lợi đã đổ nước hay sao?! Thế giới vật dục đã chiếm mất những phần niềm tin còn sót lại nơi con người. Ngay cả lũy tre làng hay cây đa, giếng nước nơi ngã ba, người ta nhìn thấy ở đó một lô góc, có thể kinh doanh, có thể xem là đất vàng, còn cây tre trong vườn, mỗi năm thu hoạch không tới vài triệu đồng, giá mỗi cây tre người ta mua chừng hai chục ngàn đồng, giá măng luộc mỗi búp chưa đầy ba chục ngàn đồng, cả một vườn tre lớn có khi bán không tới hai triệu trên một năm. Thợ tre thì đã già và chết hết rồi! Người ta nghĩ rằng nếu ủi cái bụi tre đi, biến nó thành một lô đất làm nhà thì có tiền tỉ. Người ta biết làm gì để thay đổi số phận ngoài việc cắt bớt đất để bán! Bán cho con ăn học, đổi đời, bán để mua chiếc xe mà chạy, bán để có chút tiền giằng túi, bán để có chút tiền sắm chút vàng, cho con dựng vợ, gả chồng... Những lũy tre làng mất dần do cái "thấy" từ vĩ mô đến từng gia đình. Mọi thứ ở chốn quê mất dần, may sao cau có giá, làng quê giờ có những vườn cau đẹp. Nhưng cũng đừng quên rằng năm nào cau không xuất khẩu sang Trung Quốc thì người ta phải nghĩ đến chuyện chặt bỏ cây cau vì kiến và đói. Có một thứ bất cập là Việt Nam không có đầu ra cho cây tre quê, không có đầu ra cho cây cau nếu như Trung Quốc không "ăn hàng". Giả sử nền kinh tế Việt Nam chọn Mỹ hoàn toàn thì chắc chắn hai loại sản phẩm tre, cau và có thể sau này là sen sẽ nhanh chóng mất dấu. Vì tại Mỹ không có kĩ nghệ làm kẹo cau hay làm các sản phẩm từ tre, hạt sen như Trung Quốc. Một bài toán đau đầu đối với nông nghiệp mang chất quê củi, với cái "hồn quê" xứ Việt. Nói dông dài, từ chuyện này sang chuyện khác mất rồi, ý tôi muốn nói đến cái tình quê, hồn quê. Thực ra, bây giờ vẫn còn đậm đà lắm, có những thứ mà con người có làm ra cả ngàn tỉ vẫn chưa chắc có được. Bởi tiền có thể làm ra, nhưng thứ ấy không mua được bằng tiền. Gia đình tôi có cái may mắn này, tôi vẫn sống với đầy đủ nó - Tình Quê. Ở quê, khi có miếng mít, trái chanh, trái xoài, nải chuối, ký gạo mới hay lá mì, cái bánh ú, cái bánh chưng, chục trứng gà... Người thân, bà con, hàng xóm hay cho/tặng/biếu nhau. Điều ấy như một niềm vui của cả người cho và người nhận. Tôi có ông cậu, cứ mỗi lần mít chín là ông nhớ tới nhà tôi, tôi có ba người dì, ba ông dượng, cứ mỗi lần có dầu phụng mới, gạo mới, nếp mới hay cái bánh ú, bánh chưng, bánh rò... là cho gia đình tôi một ít. Và những lúc cầm các thức quà của họ cho, vợ chồng tôi hay nói vui với nhau "giờ bỏ ra vài chỉ vàng cũng không mua được mấy cái này. Thậm chí có tiền tỉ mua cũng không có". Bởi bên trong cái bánh hay thức quà là sức nặng không thể đo lường, định dạng của Tình Quê, của tình cảm người dành cho người. Sống ở quê, đương nhiên ai cũng bươn bả, bon chen để có đồng bạc mà trang trải. Thế nhưng có những thứ không bao giờ mua được bằng tiền. Như mấy cái bánh ú mồng năm của ông dượng tôi đã gói. Thay vì mua bánh ú tro chỉ tốn hai mươi lăm ngàn đồng một chục, ông mua nếp, hái lá, ngồi hí hoáy gói bánh, nấu bánh, cúng Gia Tiên xong thì mang cho con cháu mỗi đứa vài cái... Những cái bánh ấy không thể định giá bằng tiền hay bằng bất cứ thứ vật chất nào! Và chất nếp dẽo, thơm của cái bánh quê như một loại keo dán gắn tâm hồn trẻ nít vào quê hương. Thiếu nó, người ta sẽ ít có khái niệm về quê hương hay bà con, làng xóm hơn. Bởi những thứ keo dán tuổi thơ bằng Tình Quê đeo đẳng và theo con người cho đến khi ngừng thở. Không phải vô duyên vô cớ mà nhiều người già, đến khi gần qua đời lại thèm ăn một món ăn nào đó có gắn với tuổi thơ tươi đẹp và đáng nhớ của họ. Và trong hàng trăm thứ đã bị kĩ nghệ hóa, bị biến thành loại sản phẩm du lịch hay thứ gì đó mang hơi hướm thực dụng, thì chỉ có Tình Quê, Hồn Quê là không hề suy suyễn, và nó có chỗ đứng, đất sống riêng. Ps': Quà quê trưa nay, chuối mốc, gạo mới, bánh ú của dượng nấu, dì cho...