Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

NGUYỄN HỮU HỒNG MINH: KHẢM DẤU TÍCH GIỮA MÙA XUÂN


Như thế, theo cách hiểu của tôi mùa xuân là mùa số một trong năm cũng là mùa khởi đầu của vòng quay xuân hạ thu đông.
1. Bạn đã từng có nhiều cái Tết trong đời nhưng vẫn luôn nhớ những cảm giác gọi là Tết nhất! Tôi nhớ hình như tiếng Việt vẫn gọi Tết nhất. Tùy theo vùng miền mà chữ nhất hay trại thành chữ nhứt! “Mới thôi mà Tết nhất tới rồi!”. Và câu ca “Ai xui Tết nhứt lôi thôi / Năm cùng tháng tận lòng tôi thêm buồn…”.
Tết có nghĩa vẹn nguyên, Tết là số một trong tiếng cười giòn và sự đợi chờ của con trẻ. Người lớn có chờ đợi Tết hay không? Tôi vẫn lưỡng lự không dám chắc. Nhưng trong lòng mỗi chúng ta đã có những ngày xuân nhất. Một trong những ngày xuân nhất đó đối với tôi chính là Tết hành hương. Tết đi dọc lịch sử hay miền hoài niệm. Đó là một cách hướng về nguồn cội. Hành hương có dịp đối diện với lịch sử, với hình bóng quá khứ, những câu hỏi băn khoăn thời đại đã qua để tìm cho chính mình một sức sống chân lý. Giữa thời buổi nhiễu nhương này tìm cho lương tâm một điểm tựa.
Tuy sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng nhưng tôi chưa bao giờ có dịp lang thang, điền dã hết từng miền đất yêu thương trên quê hương Quảng Nam văn hóa hào kiệt yêu dấu của mình. Cũng có thể nói Quảng Nam là miền đất hào kiệt sản sinh ra rất nhiều anh hùng và thi sĩ. Nhìn ở khía cạnh khác, đó là nơi giao điểm trí tuệ bùng nổ, những lật lẩy nhiều bờ của nội kết, phản tỉnh. Đỉnh của trí thức là tam giác ba cạnh. Mũi nhọn hoài nghi vươn tới, đi lên mãi trên hai chiều đổ xuống của hy vọng và ảo vọng. Câu ngạn ngữ “Quảng Nam hay cãi” là điểm tất yếu của việc cọ xát, không biên giới. Tất cả để dẫn tới sự hài hòa của minh triết. Sự thông suốt uyển chuyển của lý và luận. Những cái tên định danh thân thương như Hội An, Mỹ Sơn, Đại Lộc, Trung Phước, Quế Sơn, sông Thu Bồn, sông Hoài, Hòn Kẽm Đá Dừng, song Tiên… đã khảm dấu tích trong thi ca, ca dao ai cũng biết nhưng chưa chắc suốt một đời mà bạn có cơ hội đi đến hay khám phá hết.
2. Thật bất ngờ thú vị khi cái Tết Ất Mùi năm ngoái đã cho tôi cơ duyên được hành hương trên quê hương Quảng Nam. Qua facebook, tôi được biết nhà văn Hòa Văn ở làng Đông Bàn, thôn Nam Hà nơi cụ Phạm Phú Thứ yên nghỉ. Chẳng ai ngờ thời đại internet, ngồi ở trong làng vẫn ngó nghiêng xét nét được thế giới. Anh rủ tôi Tết về làng anh chơi. Và để thêm hương vị, anh nhứ mồi, gần nhà anh ở là vườn nhà văn Phan Khôi. Nơi đây là vườn mai mà khi còn ở quê nhà, hàng năm Phan Khôi vẫn ngồi khai bút đầu xuân. Không ai biết chuyện nớ hết – Anh kêu lên sung sướng trong điện thoại – Tui phải điều nghiên mãi mới ra đó nghe! Chỉ mới tiết lộ cho Minh! Tết về đây uống rượu nói chuyện văn thì tuyệt cú mèo…”. Phan Khôi người mở màn cho phong trào Thơ Mới với bài Tình già nổi tiếng! Bọn làm thơ nghe tên Cụ mà không cúi đầu bái phục thì ngẫm cũng khó… cách tân được thi ca!.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

HÒA VĂN: BÁT CHÁO NÉN


Nhớ hồi 12 tuổi bị bệnh phải nằm viện.
Đau ốm thì biết rồi việc ăn uống là chuyện chẳng đặng đừng sự mệt mỏi cả thân với lại miệng đắng như đang ngậm bù hòn thử hỏi thiết tha gì với ăn uống.
 Mẹ lúc nào cũng dỗ "Ráng ăn để mau lành bệnh còn đi học nữa chứ!".
Nói đến đi học là tôi chộn rộn. Mới đó mà hơn tuần lễ rồi xa thầy cô, bạn bè mà nhất là xa thằng Lộc tôi không chịu nỗi!.
 Thế là ráng chìu mẹ. Nhưng...

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

Thơ Nhân Trần: HOANG TÀN






Chiếc lá vàng rơi báo thu sang
Heo may reo gió lá xanh vàng
Dòng sông xuôi mãi đôi bờ sóng
Trôi giạt về đâu giấc mơ tan
***


Rồi một mùa thu qua vội vã
Bên bờ hoang, lá rụng miên man
Xa rồi kỷ niệm mùa yêu dấu
Đã thấm đời nhau nỗi hoang tàn

NT

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

QUÊ TÔI BÂY CHỪ



HÒA VĂN
ĐỌC MỘT CÂU THƠ, BÀI THƠ, CÂU VĂN, BÀI VĂN... CẢM THẤY LÒNG MÌNH XAO XUYẾN, TRĂN TRỞ, NGHĨ SUY... LÀ CÂU THƠ ẤY, CÂU VĂN ẤY... DẪU GÌ CŨNG CÓ ÍCH!.
Tôi gặp trạng thái trên khi đọc bài thơ Quê tôi bây chừ (in trong tập thơ Tuổi thơ ơi ngày về - NXB Hội nhà văn - 2015) của Nguyễn Gò Nổi.
Nguyễn Gò Nổi (NGN) bút danh của một bạn trẻ quê Gò Nổi (Điện Bàn, Quảng Nam) đang xa quê, bạn yêu văn học nghệ thuật... yêu thích thơ và làm thơ những vần thơ của bạn có điệu hay không đều đau đáu một điều gì đó có khi ai cũng biết nhưng chưa hoặc ngại không nói ra có khi chỉ là một ý tứ nhỏ nhưng càng ngẫm không nhỏ chút nào...
Tập thơ có 53 bài đứa con so của NGN bụ bẫm dễ ghét về hình dạng tâm huyết nhiều về nơi chôn nhau cắt rốn theo cảm nhận của chính NGN chắc vì vậy nên chi sinh con ra "Anh" bố lại lấy tên của quê cha đất tổ để tự đặt thành tên riêng - bút danh - điều này quả là chỉ có tự tin về sức về lực mới mạnh dạng làm! Mong là đúng như vậy bởi con thuyền thơ ra sông ra biển biết đâu mà lường...
Bây chừ xin vui cùng đứa con của bạn đang "mẹ tròn con vuông" các bạn nha!.
***
ĐỌC BÀI THƠ QUÊ TÔI BÂY CHỪ
"Quê tôi bây chừ vẫn nghèo lắm, quê tôi"
câu thơ đây ah! câu nói từ đáy lòng chứ!. Không bạn ạ thơ đây! Thơ từ chính người con của quê đây khi bạn viết thiệt rất thiệt!. Câu thơ hay ở hai từ "quê tôi" nhắc lại ở cuối câu.
Quê nghèo. Mà trăm thương ngàn nhớ. Chính xác là vậy.
"Tháng năm cha cuốc cày trên cánh đồng như thế/ Canh cánh nỗi lo khi mùa gió bão tràn về/ Trông đất trời hai mùa mưa nắng đi qua."
Để rồi
"Quê tôi bây chừ những đứa con đi xa/ Không muốn trở về mưu sinh trên vùng đất mẹ/ Còn nơi đây cụ già và côi cút những đứa trẻ/ Cứ ngóng trông, lặng lẽ phía cuối làng."
Để rồi
"Quê tôi bây chừ giữa lúc mùa xuân sang/ Bỗng nhiên rộn rã như cơn mưa rào, bất chợt/ Mẹ tiễn con ra đi khi ngày vui chưa ngớt/ Hẹn mùa xuân sau trong điệp khúc mưu sinh."
Bài thơ đắc ý ở khổ này. Bạn có ray rức điều nầy?. Tin là bạn nhất định phải ray rức!.
Quê nghèo vì đâu khi binh đao đã qua trên 40 mùa xuân rồi.
Phải nói so với xưa nay được hơn nhưng so với yêu cầu của đời sống hiện tại chưa được!. Cứ nhìn niềm vui vỡ òa của bao bà mẹ bao em thơ khi đón con; đón anh; chị làm ăn xa quê trở về quê vui xuân đón tết thật "rộn rã" bao nhiêu thì khi bắt gặp cảnh những người con yêu thương khăn gói lên xe vượt hàng trăm cây số đến khắp mọi miền đất nước "mưu sinh" hỏi ai nghĩ gì?.
Quê nghèo!. Các bạn có cam chịu?. Câu hỏi cũng chắc không bạn nào trả lời là cam chịu song nói, nghĩ thì dễ làm thật không dễ gì có điều trong gian khó quê mình nghèo thật nhưng giàu tình giàu nghĩa đúng như NGN viết trong khổ thơ cuối của bài thơ Quê tôi bây chừ:
"Quê tôi bây chừ vẫn nặng nghĩa tình/ Cuộc sống tựa vào nhau trong câu ca dao bầu bí/ Muôn đời không đổi thay mỗi người trong nếp nghĩ/ Quê tôi dẫu nghèo nhưng quý mến thân thương.".
Hòa Văn
giữa xuân Bính Thân - 24/02/2016

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Truyện ngắn Hòa Văn: BA CÒN




Ba Còn ráng gánh đôi thúng thóc trên đôi vai bên nào cũng đỏ sần.
 Thấy Ba Còn luống cuống với đôi quang gánh ông đội trưởng không tỏ chút thương hại nào mà còn quát:
 "Gánh nhanh về kho! Chậm chẳng ai đợi một mình mi đâu!"
 Lấy tay áo lau vội những giọt mồ hôi trên trán Ba Còn sửa sửa lại đôi gióng xong gánh chạy lúp xúp...
Sân kho được xây dựng giữa đồng bao quanh là hàng rào xây bằng gạch cao quá đầu nghe nói phải kín cổng cao tường như vậy để phòng kẻ gian. Ba Còn trút đôi thúng thóc xuống sân phơi lát gạch, trở ra gặp kế toán nhận phiếu.
 Kế toán:
 "Cũng giỏi hỉ! 56 cân!"
 Ba Còn:
 "Giỏi ươn chi không gánh đầy thúng tối lại mấy "ổng bả" bình điểm chót có húp cháo!"
 Không biết sao Ba Còn hôm nay lại lý sự chứ mọi khi ai nói chi kệ, chỉ cười cười.
 Nhập đôi gióng lại làm một xong để hai cái thúng vô lấy đòn gánh quảy vừa đi vừa nhẩm tính... "Thế là ngày hôm nay mỗi một mình mình gánh 18 gánh thóc nhập kho bình quân trên 55 vị chi gần cả tấn!".
 Nhóm sản xuất của Ba Còn có mười hai người đi thu hoạch lúa đến bữa nay là sáu ngày rồi. Ai phần nấy, đàn bà cắt lúa, đàn ông ôm lúa tuốt lúa. Ba Còn với ông Cật chuyên đứng máy tuốt. Làm lụng có mệt nhưng không mệt bằng sau buổi cơm tối ngồi ở nhà đội bình điểm. Lâu rồi thành quen chứ bữa đầu tiên khi chưn ướt chưn ráo ở Sài Gòn về làm ruộng ăn công điểm Ba Còn thấy chuyện bình công chấm điểm vừa lạ vừa sao sao ấy.
 Nói thiệt Ba Còn lưng dài vai rộng lại học xong 12 nếu ở lỳ trỏng ngày hai buổi đạp xe xuống chợ trời gần lăng Cha Cả mua đi bán lại những món đồ như đồng hồ, radio,... không đến nỗi nào.
Ba Còn ngồi nghĩ nghĩ... Cả ngày gánh đất thước rã cặp cẳng ê ẩm cả người nhưng được cái bộn điểm.
 Lão định mức ăn phải món gì mà hôm nay mở rộng tay thước ghê hè, gặp mấy bữa vụ nâng số lượng đất từ 95 lên 150 mét khối bằng cách tạo ô-tơ giả không dễ gì qua mắt lão, đàng này lão lại khen:
 "Mấy đứa dạo này làm ăn đàng hoàng ghê!"
 "Hì hì anh la quá phải kiêng chứ!"
Ba Còn vừa trả lời vừa nhếch mũi khiến cho cả nhóm gánh đất cười rân...
Ngồi thừ trước trang giấy gặp tôi đến Ba Còn xếp cuốn sổ đứng dậy.
 Tôi nói:
 "Bộ làm thơ hãy cha!"
 Tuy là anh em nhưng tôi hay gọi đùa Ba Còn bằng "cha".
 Ba Còn không trả lời chỉ cười cười rồi đưa cuốn sổ cho tôi.
 "Thơ! cha làm thơ thiệt hãy cha!"
 Tôi tính hét to lên như thế nhưng kịp dừng lại.
 Con người lạ thật lao động cực nhọc đầu tắt mặt tối ngày nầy tháng nọ tưởng khô queo ai ngờ...
 "Thơ của Ba Còn ướt ác!"
 Lẩm nhẩm đọc từng câu thơ viết trong cuốn sổ dày cộm tôi nghĩ trong bụng như vậy.
 Ba Còn bưng ấm chè xanh từ nhà bếp lên đặt trên khau giữa bàn mắt nhìn chằm chằm vô mặt tôi rồi hỏi:
 "Tạm được phải không?"
 Thấy tôi im lặng Ba Còn lấy chiếc ca Mỹ inox sáng bóng rót chút nước tráng tráng xong rót gần đầy ca nước chè xanh bốc khói nóng hổi rồi cất tiếng mời:
 "Anh uống thử chè Phú Thượng trồng trên đất quê mình có ngon bằng chè Phú Thượng chánh gốc không?"
 Hình như sinh ra không phải làm ruộng thì phải bởi mặc dù ở nông thôn tay lấm chân bùn nhưng hễ cất cái cuốc Ba Còn hiện nguyên hình anh thư sinh áo quần phẳng phiêu, tóc tai chải chuốt riêng cái phong thái ăn nói ngủ nghỉ đĩnh đạt khó có ai bì... Có bận bịu mấy có trong vụ mùa ai bù loa bù lem Ba Còn mười bữa như chục thủng thỉnh pha chè cà phê nhâm nhi xong mới ăn cơm đi làm đó là buổi sáng còn chiều tối xem truyện đọc sách chính vì vậy Ba Còn biết nhiều thứ đông tây kim cổ.
Khoản trồng cây gì nuôi con gì cũng chỉn chu trong mảnh vườn sào mười hai được phân bổ vụ nào cây nấy... cái khoản chè Phú Thượng mà Ba Còn nói thì khỏi chê. Chỉ mươi gốc chè không chỉ đủ uống quanh năm mà lâu lâu còn biếu bà con lấy thảo!.
 Mấy ngày nay công việc thu hoạch xong tranh thủ nắng ráo Ba Còn làm chuồng nuôi heo.
 Tôi hỏi:
 "Trù nuôi giống chi?"
 Ba Còn:
 "Móng Cái"
 "Duroc bò Mỹ chứ!"
 "Không! Giống heo bò Mỹ giờ không chạy nữa. Nuôi heo Móng Cái phối heo Nga giống Đại Bạch ra F1"
 " Ừ mần thử coi!"
 Không rõ Ba Còn học ở đâu mà làm được kinh. Một dãy chuồng với năm ô vuông vức không như người ta chẻ gốc tre đóng nọc Ba Còn cưa tre ra từng thanh dài theo kích thước ngang dọc rồi ráp thành ô chuồng trông chắc và đẹp nữa. Mái che chuồng thì giống như mọi người lợp tranh rạ.
Vụ chăn nuôi của Ba Còn nổi tiếng không chỉ heo mà về sau có cả bò năm nào cũng xuất chuồng hàng tấn heo và mấy đôi bò riêng phân chuồng thì khỏi nói đủ để bón ruộng cả tổ riêng thóc thu về từ phân cũng bộn!.
 Ngoài chủ lực phân chuồng, phân xanh có dạo còn phát động làm phân bắc!. Ở xóm có ông Năm Hí vụ nào cũng sánh với Ba Còn vụ bán phân cho hợp tác. Có điều không như Ba Còn nuôi lợn nuôi bò ông Năm Hí quanh năm suốt tháng cứ ngày ngày gánh đôi rổ đi khắp nơi thu gom phân bò phân trâu rơi vãi trên đường ngoài đồng... về nhà ủ làm phân.
Có vụ mùa Năm Hí vượt qua Ba Còn về khoản phân tro vì không biết bằng cách gì ngoài phân xanh, phân chuồng Năm Hí còn cân được mấy tạ phân bắc!. Mỗi nhà làm một cái hố xí hai ngăn, có nắp đậy, mỗi lượt đi ngoài xong bỏ vô thêm vài nắm tro lâu ngày hố xí đầy ngăn nào đậy ngăn đó lại đi tiếp ngăn thứ hai, tới mùa vụ xúc phân ra hong phơi đập cho thành bột đem bón lúa tốt lắm!.
"Vác ruộng chạy khắp đồng kêu-nước/ Giục lòng như thể giục trâu đi" (*).
 Tôi dừng lại thật lâu trang thơ này.
 "Ê! Bài ni mà răng cha để vô đây?".
 Ba Còn hớp ngụm nước chè xanh chắp chắp tỏ rõ khoan khoái lắm rồi chậm rãi trả lời:
 "Anh nhớ đúng rồi!. Bài đó không phải của tui nhưng thích chép vô thôi!".
 Hì hì... Thình lình tối nay lại đọc và bình thơ. Quê tôi tự xa xưa vốn là vùng đất được mệnh danh đất học mà đã học thì có thơ có phú. Đến giờ hình như cái gen ấy lại có dịp bùng phát. Trời đất "tối ăn khoai đi ngủ sáng ăn củ đi làm" mà vẫn thơ với văn... Tôi gật gù đọc thơ của Ba Còn mà lòng vui lạ. Những câu thơ như rút ra từ ruột thật đằm thắm thật mặn mà... Chứ không như ông Bảy Lên chuyên làm vè. Mỗi khi có họp hành bất kể gì ông Bảy Lên cũng tranh thủ đọc một đôi bài có khi đôi ba câu ca ca ngợi ngợi một sự việc cụ thể nào đó.
 Hồi hôm đương lúc bình công căng như dây đờn đột nhiên ông ứng khẩu: "Hợp tác hợp te...". Khi cả nhà đội im phăng phắc lóng ngóng nghe thì ông lại dừng và nói bình tiếp cho xong sớm mai còn đi làm khiến mọi người cụt hứng!.
 Bảy Lên ngồi tỉnh queo chặp thấy không khí im ắng lại nói:
 "Xin mọi người sớm mai ra đồng lẹ lẹ đừng có trưa hoang như bữa ni"
 Ba Cật:
 "Mà cũng thôi cái vụ buổi chiều đợi bà Phông gánh cá lên mua kho xong mới đi làm hỉ!".
Cái vụ đợi kho cá là vụ độc nhứt vô nhị. Cứ đi làm buổi chiều thay vì đi đúng giờ đúng buổi một số mẹ chị lại đủng đĩnh chần chừ tới khi bà Phông chuyên gánh cá lên chợ bán lúc chạy bộ ngang qua xóm ai mua thì dừng lại bán. Tầm này chí ít cũng xấp xỉ ba giờ chiều rồi. Có người nói vui "Không chừng còn kho cá ăn cơm mới đi làm!".
Đó là hồi làm khoán tuy đã bớt đi bao điều nhập nhằng vẫn còn không ít bất cập cảnh "cha chung" thì biết rồi...

H.V
 ------------
 (*): Thơ Nguyễn Tam Phù Sa

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Truyện ngắn Hòa Văn: LÃO NÔNG




Bầu trời mùa đông đeo chì trông thấp và u tối. Bây giờ mới nửa chiều mà như chạng vạng. Lão Nông rải xong nắm thóc cuối cùng xuống ruộng bước lên bờ lấy tay quệt quệt mồ hôi lấm tấm trên trán nhìn tôi cười cười...
 Lối cười của lão Nông khó tả cho chính xác, ngó bộ dạng và khuôn mặt với lối cười tôi đoán bụng dạ lão đang không vừa ý điều gì đó.
 Tôi hỏi:
 "Ngâm giống rộc To chưa?"
 Lão Nông:
 "Ở đây chưa xong mà to nhỏ chi!"
 Trời bắt đầu mưa nặng hạt. Mấy ngày qua nghe nói do ảnh hưởng không khí lạnh với lại đông chí rồi nên kèm theo mưa là lạnh. Cái lạnh ở nhà một ở đồng ruộng mười. Lạnh phần nước dưới chân phần gió thông thốc đã thế ăn bận mỏng manh nữa nên càng lạnh...
 Nông dân như lão Nông gần cả đời lăn lộn với thửa ruộng mảnh vườn bù lu bù loa như thế mà suy đi tính lại mới đắp đổi qua ngày.
 Hồi đứa con thi đỗ đại học ở SàiGòn chòm xóm mừng lão cũng mừng lắm nhưng nói tưng tửng "Con thi không đậu thì con chết mà con thi đậu thì chết cha!" ý nói khó khăn trong việc đài đương cơm áo gạo tiền cho con ăn học xa nhà.
 Lão Nông vừa thu dọn rửa ráy từng cái cuốc, cái trang, cái mủng cho sạch bùn vừa nói
chuyện.
 "Anh thấy đó làm ruộng chừ so với hồi tập thể thì khoẻ nhiều rồi nhưng..."
 Tôi biết lão Nông nói điều gì bởi tới bây giờ bao vất vả vẫn còn đeo miết theo các công đoạn từ làm đất gieo sạ đến thu hoạch. Tỷ như cánh đồng Vuông nầy thuộc diện trũng nên khi gieo sạ gặp không ít khó khăn nhất là khâu tiêu nước. Phải chi bà con cùng chia sẻ với nhau trong việc tháo cạn nước từ ruộng cao xuống ruộng thấp đàng này...
 Lão Nông chỉ đám ruộng nói:
 "Sạ càn hạt thóc xuống ruộng nước lai láng như ri lúa mọc thất bát lắm!"
 Nghe lão Nông phân trần tôi càng yêu hơn quê mình. Nơi còn quá nhiều khó khăn... Khi kinh tế mà khó thì đừng nói phải trái... Ai không biết làm điều trọng nghĩa khinh tài, ai không biết... ai không biết... nghẹt nỗi lực bất tòng tâm.
 Lão Nông không phải tay vừa nhưng... "thế thời phải thế". Từng là cháu nội của một trong ít nhà có tiếng giàu có ở đất này ruộng đất bề bề cái thóc lúa cái hoa màu cái mía đường, trâu nuôi mấy cặp, ông che nấu đướng mấy chòi..., trong nhà có người làm quanh năm suốt tháng hết công chuyện này sang công chuyện khác không ngơi tay, mọi khâu trong sản xuất lưu thông nông sản khép kín.
 Nhưng...
Ở đời có hàng ngàn chữ nhưng có điều chữ nhưng tôi đề cập nó không liên quan đến chữ với nghĩa mà dính tới số phận nhiều con người...
 Lão Nông lui cui mở cửa ngôi nhà ba gian xây gạch theo kiểu nhà cổ. Kiểu nhà hồi trước 1965 ở đây khá phổ biến giờ là hiếm rồi. Lão Nông bật đèn cái tiếp thước hai sáng trưng.
 "Ông đợi tôi chút!"
 Tôi nhìn quanh... Ngôi nhà thiếu bóng dáng đàn bà có vẻ vắng lạnh!. Tôi nghĩ bụng như vậy. Lão Nông biệt danh sau 75 do làm nông cừ bà con chòm xóm đặt chứ tên khai sinh Nguyễn Nghĩa. Là con nhà khá giả nên xưa nay có nếp sống chỉn chu. Hòa bình về quê cưới vợ. Vợ cũng là thư sinh áo trắng hẵn hoi có điều dính cháu nội ông hương Sam giàu có nhứt làng. Hồi đó giàu là có "tội" nên "nồi méo úp dung méo". Đám cưới Nghĩa như đám hát người ta coi đông nghịt...
 Số là xưa có hiềm chi không rõ mà cha của vợ Nghĩa không chịu gã.
 Ông nói "Muốn cưới con Đào phải rước bằng xe ba, bốn bánh!". Ngày ấy tìm cho đủ mươi chiếc xe đạp đã khó huống chi xe hơi xe điện. Nghĩa không bó tay nghĩ mãi cũng ra...
 Anh xuống phố Hội hỏi đội xe xích lô một thời ở đây mới biết chẳng còn như xưa. Xe bỏ lăn bỏ lóc không còn xử dụng nữa. Anh bèn mượn được chục chiếc bỏ lên xe bò kéo về nhà hì hục sửa sang lại. Thế mới biết khi trai gái đã yêu thương "mấy sông mấy suối cũng lội cũng trèo" là chính xác!.
 Tới ngày rước dâu... Đàn ông đạp xe xích lô chở đàn bà, dành một chiếc xịn nhứt trang hoàng bông, lá... chú rể Nguyễn Nghĩa lái xe còn cô dâu chễm chệ ngồi trước tay ôm bó hoa ngũ sắc toàn là cây nhà lá vườn rất tươi tắn.
 Ông gia của lão Nông sau này khi có chén rượu hay nói "Tui thương thằng Nghĩa chứ bộ!". Điều này không ngoa dạo đứa cháu ngoại trai đầu mới vừa sinh xong ông sai con gái út xách xe chở ông đến ngay bệnh viện tỏ rõ niềm vui lắm lắm...
 Lão Nông thay áo quần chỉnh tề xong nói "Ông và tôi lâu mới gặp nhau chừ không cơm nước cho mệt đi ra quán bê nhỏ Bảy mần xị rượu?".
 Nông thôn giờ khác nhiều. Nhà có khách là bà con hoặc bạn bè thường dẫn ra quán. Quán nhỏ Bảy chuyên bê thui lấy từ Cầu Mống ngon nên chỡ mô cũng đông khách.
 Ngồi lai rai hai xị rượu gạo lão Nông ngà ngà say, rượu vào lời ra kể tất tật chuyện làng chuyện xóm...
 Lão Nông gật gù. "Ông biết đó nông thôn không rõ đến bao giờ mới ra khỏi cái lẩn quẩn được mùa rớt giá. Mà thôi ra sao thì ra cả làng cả xã chứ đâu mỗi mình đâu!". Dứt lời lão Nông bưng ly rượu lên vừa mời tôi vừa trót một trăm phần trăm gọn ơ.
Ngày ấy vô tập thể cái roẹt. Mọi thứ quy ra tiền, con trâu, cái cày cái bừa, con bò, bình phun thuốc sâu, máy móc nhỏ lớn trở thành cổ phần...
 Ruộng cao ruộng thấp biền xa đồng gần nhứt đẳng điền, nhị đẳng điền... là của chung mọi người.
Đi làm theo tổ theo nhóm có đội trưởng, đội phó, thư ký hẳn hoi. Làm xong bình công chấm điểm từng người có hôm mắc mứu cả tổ ngồi bình ngồi chấm ở nhà đội tới khuya lơ mới ngả ngũ...
Công cán tất cả trả bằng thóc. Thợ nề thợ mộc, làm gạch, làm tằm, cày bừa đất cấy sạ lúa gieo tỉa hoa màu... Nuôi trâu nuôi lợn... Lao động gián tiếp trực tiếp đều nhận thóc mỗi ngày công tùy vụ thóc lúa được thua mà tính.
 Một thời hợp tác có cỡ trong huyện. Mỗi ngày công ăn chia hơn ba ký. Cánh ngành nghề, nhà đông lao động lại biết tính toán làm những công việc như gánh đất thước, làm thủy lợi... nhận khoán hời sẽ bợ trãnh.
 Còn nhà thiếu lao động, đàn bà con gái chủ yếu làm những việc cấy hái nhổ dặm thời không bao lăm điểm.
 Lão Nông ngừng kể. Lạ thiệt tôi cứ tưởng lão Nông say xỉn nhưng không ngó bộ dạng biết tửu lượng cao nếu không chỉ có nước mềm như con bún chớ làm răng nói năng chuẩn như rứa!.
 Lão Nông cười cười hình như đoán mò ra những gì tôi nghĩ... rồi nói "Bà nhà tui vô Sài Gòn với vợ chồng thằng Hai nửa năm rồi. Cả ba đứa cháu nội mới điện về nói ông nội bớt ruộng lại để bà nội ở luôn trỏng!".
 Tới thời khoán 100, khoán 10 (*) nhà tôi đã ở Sài Gòn. Giờ nghe lão Nông nhắc chuyện mần ăn tập thể tôi hình dung rõ bao vất vả...
Nay mọi sự khá hơn nhưng còn lâu mới ra cái lẩn quẩn mà lão Nông nói.
 Ba mối quan hệ nông thôn nông nghiệp nông dân được bàn được hoạch định từ bao lâu nay chưa khả dĩ...
Tính tiểu nông lấp ló lại!./.
 HV
 ........
 (*): Khoán 100, khoán 10:
 Qua tổng kết thực tiễn ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thường gọi tắt là khoán 100.
 "Khoán chui", một mặt, phản ánh sự bắt đầu đổ vỡ khó tránh khỏi của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và tư liệu sản xuất khác của nông dân; mặt khác, phản ánh tính tất yếu kinh tế - khôi phục lại chức nǎng kinh tế hộ nông dân. Khoán 100 bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan này.
 Nội dung cơ bản của khoán 100 thể hiện trên mấy điểm:
 Mục đích: phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, nǎng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động.
 Nguyên tắc: quản lý và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, quản lý và điều hành lao động phải trên cơ sở gắn với kết quả cuối cùng của sản xuất, thực hiện khoán theo 5 khâu và 3 khâu; trong phân phối giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích người lao động.
 Phạm vi: áp dụng đối với mọi loại cây trồng và vật nuôi.
 Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ gia đình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dân chủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất. Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian đầu, khoán 100 đã có tác dụng làm sống động nền kinh tế nông thôn và tạo ra một khối lượng nông sản lớn hơn so với thời kỳ trước.
 Tuy vậy, khoán 100 cũng chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp. Hệ thống này cùng tính chất mệnh lệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận khoán. Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên đã phải trả lại bớt ruộng đất.
 Trước đòi hỏi của cuộc sống, nhiều cấp uỷ đảng ở địa phương đã chủ động chuyển sang khoán gọn và sau đó được Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4-1988) xác nhận và thường gọi là khoán 10. Cùng với việc thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn. Từ đây, chức nǎng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại. Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3-1989 và Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất hàng hoá. Đổi mới hình thức và nội dung hoạt động của các hợp tác xã nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm nǎng kinh tế hộ nông dân và nông nghiệp, từng bước chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa.