Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2021

Lê Lộc: KÝ ỨC TẾT

        "Hương Tết đã nhạt dần theo tuổi tác, vị Tết cũng phai theo môi trường sống. Nhưng, có lẽ chính nơi mình từng thưởng thức Tết trọn vẹn nhất, viên mãn nhất giờ cũng chỉ còn mùi Tết trong ký ức. Để lòng người cứ xao xác những nỗi nhớ niềm thương !".




        Những năm trước, chậm nhất là hai mươi sáu Tết, tôi đã vừa thong dong, tươi tỉnh, vừa khoan khoái khi ngồi trên tàu về quê. Năm nay, đến ba mươi Tết rồi, mà tôi vẫn còn ở đây, với vợ con, trong căn nhà giữa phố xá ồn ào, lòng trống huơ, dửng dưng, không hề gợn một chút cảm giác Tết. Vậy là không thể về được nữa rồi! Tôi đi ra lơ ngơ, đi vào thờ thẫn. 

       Ngồi bần thần, nằm rã rượi. Chốc chốc, ra đứng tựa cửa, mắt xa xăm, tay buông thõng. Dáng vẻ ủ rũ, có lẽ trông tôi y như cây chuối cụp lá, vàng nhợt sau mùa lụt trong vườn quê thuở nào. Cái cách phố lạnh lùng, thờ ơ với Tết, càng khiến tôi đờ đẫn nhớ Tết làng quê. Hằng năm, từ rằm tháng chạp, khi nắng chớm xuân ấm áp trải khắp ruộng đồng, cha tôi đã hì hục đốn hạ những cây sầu đông trong vườn, rồi đẵn khúc và bửa nhỏ thành củi, phơi đầy sân, đầy ngõ. Củi cây sầu đông phơi được nắng thoang thoảng mùi thơm, pha chút hăng hăng, gây cảm giác dễ chịu, cùng với ý nghĩ mẹ và em gái sẽ có một cái Tết được nấu nướng thoải mái, nhàn nhã bằng củi. Chứ không phải chịu cảnh lui cui ngồi dính rịt trong bếp, không dám rời đi nửa bước, luôn tay cầm đũa bếp đùn đẩy rơm rạ, hoặc lá tre, lá mít, lá chuối khô... vào lửa. Khói bếp ùn tỏa cay xè, ràn rụa mắt mẹ, mắt em. Nhưng, dường như làn khói bếp lại ngần ngại bay lên cao, vào không trung. Như thể bay lên sẽ phai, sẽ loãng, sẽ tan đi hơi ấm. Là mất, là hết, là vô tâm, là đoạn tình đoạn nghĩa với bếp lửa, với tình người. Nên cứ là đà, quấn quít, vấn vương, bịn rịn trên mái tranh. Những sáng sớm trong lãng đãng mù sương, những chiều tà trong nhàn nhạt nắng, hình ảnh làn khói lam vật vờ uốn lượn quyến luyến mái tranh, hư ảo trên nền xanh thẫm của lũy tre làng, vẫn ngàn đời lắng đọng niềm yên ả, êm đềm trong lòng người xa quê. Trong khi cha lo toan chuyện củi lửa, phần việc của tôi là quét váng nhện, bụi bặm khắp nhà trên, nhà dưới. Sau đó, lau dọn và trang trí bàn thờ. Sao cho đến trưa ngày hai mươi ba phải xong đâu vào đó. Để kịp chiều tối hôm ấy làm lễ đưa ông táo về trời. Những giá ảnh và di ảnh ông bà trên bàn thờ được lau rất cẩn thận. Tấm vải điều phủ bên trên cũng được giặt sạch sẽ, thơm tho. Mấy bộ lư hương, chân đèn bằng đồng được đánh sáng bóng. Chân tàn hương, cha mẹ tôi bảo phải đặt vào thùng thiếc rồi đốt, không được vứt bừa bãi. Nếu làm thế là thất kính đối với người khuất mặt, là mang tội. Cát trong nồi hương, dứt khoát phải thay mới. Mẹ buộc tôi đi lấy cát tận dưới lòng sông, về phơi thật khô, rồi mới thay cát cũ. Bình thường, cha mẹ tôi đã đặc biệt chú trọng việc cúng kính. “Cúng phải kính”, cha mẹ tôi thường căn dặn mỗi lần kỵ giỗ. Trước hết, trên bàn thờ phải có hoa và quả, theo vị trí nhất định: đông bình tây quả. Tiếp đến, ly nước trong (để ông bà súc miệng), đĩa trầu cau. Thức cúng phải bày biện cân đối, tề chỉnh. Khi thắp hương, phải cắm bằng hai tay, thẳng đứng, không được nghiêng xiêu. Hễ thờ tự phải thanh sạch, thành kính, cha mẹ tôi luôn khuyên răn con cái. Những điều có vẻ nghiêm ngặt như thế, tự bao giờ đã thấm trong tiềm thức tôi tình cảm quý trọng tổ tông, nguồn cội. Chuẩn bị Tết, mẹ và em gái tôi có quá nhiều việc để làm. Đầu tiên, soạn tất cả chén bát, đũa muỗng, ly tách, ấm trà, bình rượu... trong chạn ra rửa kỹ, phơi phong khô ráo, rồi xếp trở vào. Những đồ đạc này chỉ dùng riêng cho dịp cúng giỗ, đám tiệc và tết nhứt mà thôi. Sang ngày mai, mẹ đi chợ mua kiệu, hành, cà-rốt, củ cải... về cùng em gọt, xắt, phơi... chuẩn bị cho món dưa kiệu truyền thống không thể thiếu. Mới nghĩ tới thẩu dưa kiệu trăng trắng, xanh xanh, tim tím, đo đỏ... bắt mắt là đã nghe thèm bánh tét, bánh rò rồi. Đến ngày kia, mẹ với em rang nếp, rang đậu, rồi xay thành bột thơm phức để chuẩn bị làm các thứ bánh: bánh in, bánh tổ, bánh dẻo, bánh nổ... Nhưng đến công đoạn cuối cùng, trộn, chà, in, nện... là phần việc của cha con tôi. Những chiếc bánh sắc cạnh, thơm nức, ngó phát thèm lần lượt ra khỏi khuôn chỉ chờ sấy nữa là cho vào thùng, vào hộp. Cứ thế, cả nhà ngày nào cũng bận bịu đến khuya lơ khuya lắc. Nhưng niềm vui, tiếng cười tràn ngập, mái tranh quê càng thêm ấm cúng đến lạ. Sắm sanh, chuẩn bị ăn Tết, người dân quê vẫn quen tự tay mình làm lấy các món ăn, bánh trái, bằng vật liệu cây nhà lá vườn, do chính công sức, mồ hôi của mình tạo ra. Hớp ngụm trà, nhâm nhi chiếc bánh, ta sẽ liên tưởng bột đậu, bột nếp mềm mịn, thơm lựng thế này là thành quả của bao ngày cày sâu cuốc chín, dầm mưa dãi nắng, thức khuya dậy sớm... Mồ hôi người từng gieo vào đất, thì đất sẽ lại trả ơn người bằng những mùa vụ ruộng đồng lúa nếp trĩu bông, bằng những chum lu ắp đầy đậu bắp. Để rồi, mỗi năm một lần, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới thực sự thong thả, xúm xít cùng nhau thưởng thức hương vị các món ăn Tết. Và, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới khoan khoái, an nhàn tận hưởng hương vị cuộc sống. Cũng chính vì thế mà cái Tết ở làng quê là sự bừng lên rõ rệt nhất. Cứ thế, không khí chộn rộn chuẩn bị Tết, khiến xóm làng vốn tĩnh lặng cả năm, bỗng thức dậy từ giữa tháng chạp. Nhà nhà tất bật dọn dẹp sửa sang, cười nói rộn rã. Ngoài đường, hối hả kẻ đi bán, lật đật người đi mua. Rải rác từng nhóm đôi ba cô cậu đi làm ăn phương xa về nhà ăn Tết, tay xách vai mang, lỉnh kỉnh quà cáp, tinh tươm quần áo. Đường làng bỗng tươi tắn sắc màu, rộn ràng chào hỏi. Trẻ em hí hửng đùa nghịch, tung tăng chạy nhảy, hồn nhiên khoe nhau quần áo mới toanh, được cha mẹ, anh chị vừa sắm cho. Hàng xóm láng giềng í ới, lao xao hỏi mượn, trao đổi nhau ô nếp, lon đậu, bát đường... Hoặc nhờ chú, nhờ anh khéo tay gói giúp ang nếp bánh tét, bánh rò. Eng éc tiếng heo kêu làng trên xóm dưới, phía trong đầu ngoài. Người ta xôn xao mổ heo chia nhau cùng ăn Tết. “Có đói cũng ba ngày Tết, có hết cũng ba ngày mùa”, đó là cách người nông dân tự tưởng thưởng chính mình, sau một năm nhọc nhằn làm lụng. Xong nhà ông Hai, đến nhà bà Ba, rồi nhà chú Lúa, nhà cô Nếp..., nhộn nhịp lễ cúng tất niên kể từ ngày hai mươi ba, liên tục tới chiều ba mươi. Nhà nào cũng sum họp, tề tựu đông đủ ông bà, con cháu, dâu rể... Ấm cúng, đề huề. Và chắc chắn không bao giờ thiếu hàng xóm láng giềng. Những người luôn sẵn lòng sẻ chia lúc tối lửa tắt đèn. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ có nơi làng quê, chỉ có người dân quê mới nghĩ, mới hiểu, mới nói, mới làm điều đó một cách vô tư nhất. Nghĩa xóm tình làng luôn sâu nặng, thắm thiết. Rồi cũng đến chiều ba mươi Tết, mọi việc hầu như đã xong xuôi. Nhà cửa, đường làng khang trang hẳn lên. Nhịp Tết của xóm làng lắng xuống một chút. Khi đêm dần buông, mọi người chờ đón giao thừa. Ngoài sân, bàn cúng đã được trang trọng bày sẵn. Trong nhà, bàn thờ tổ tiên cũng đã đầy đủ bánh trái, hoa quả. Khi phút giây giao hòa của năm cũ và năm mới điểm, hương đèn được thắp lên. Cha tôi trịnh trọng áo dài, khăn đóng, quỳ lạy, khấn vái. Khoảnh sân rộng, trong đêm trừ tịch, giữa đất trời mông mênh, kỳ vĩ, tôi nghe như hồn thiêng quê cha đất tổ lung linh trong ánh nến, kỳ ảo trong nghi ngút khói hương, khói trầm. Vào nhà, chắp tay trước bàn thờ tổ tiên trang nghiêm, tôi cảm nhận mối gắn kết thiêng liêng về cội nguồn tộc họ, về tôn ti thứ bậc họ hàng. Tất cả những điều rất bình thường, rất giản dị như thế ở làng quê, mà tôi chưa hề cảm nhận suốt gần hai mươi năm nơi phố xá xa hoa này, thì lòng tôi sao khỏi trống huơ, vắng lạnh, hẫng hụt, khi mỗi độ Tết đến, người ta kéo nhau về quê sum vầy, đoàn tụ, bỏ mặc thị thành buồn thiu, ngơ ngác. Có tôi trong nó, thẫn thờ, khắc khoải, chiều ba mươi nát ruột hát bài Về quê (*). 

       Để rồi nghẹn giọng “...thiếu quê hương ta về ta về đâu???”. Và, bật khóc ngon lành. Nhiều khi, thả trôi cảm xúc dập dềnh theo dòng hồi ức miên man, bằng giọng trầm buồn, nửa như có chủ ý, nửa bâng quơ, mẹ kể: “Hồi nớ, cha con đem cái nhau, rồi cái núm rún của con chôn sau vườn, gần bờ tre, giữa bụi chuối và gốc mít...”. 

       Cái nhau và núm rún ấy đã hóa đất từ lâu lắm rồi. Nhưng chắc chắn nó vẫn quẩn quanh, loay hoay trong lòng đất, chỗ gốc mít, bụi chuối, bờ tre xa xưa. 

           Nó là một phần máu thịt của tôi, cũng là của mẹ, của cha tôi. Thử hỏi chiều cuối năm rồi, mà quê nhà vẫn mịt mờ, xa lắc xa lơ, làm sao mình khỏi nát lòng nát dạ, khỏi thắt ruột thắt gan?!

 LÊ LỘC 

___________________________ 

 (*) Nhạc Phó Đức Phương

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2021

Hòa Văn: NIỆM TÌNH


Tưởng niệm nhà thơ Quảng Nam TƯỜNG LINH

♥️

Mùa đi...

Hoa cải... 

ngập ngừng

Thu ơi từ đó... 

tương phùng - biệt ly?

Về hỏi lại... 

Mây cố... tri 

Nghìn khuya... 

nghe vẳng khúc thi 

Cổ cầm... 

H.V 

------ 

Từ trước ... (ba chấm) là tên các tác phẩm của thi sĩ Tường Linh


Nhà thơ Tường Linh có tên khai sinh Nguyễn Linh, sinh ngày 12-12-1931 mất 5/2/2021. Quê quán làng Trung Phước, huyện Quế Sơn (nay là Quế Trung, Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam. Ông xa quê từ năm 1954, ra sống ở Huế, Quảng Trị. Đến năm 1956 thì vào ở hẳn tại Sài Gòn cho đến nay. Trước năm 1975 ông làm báo tại Sài Gòn, từng có thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hoà.

Tường Linh sáng tác nhiều từ những năm 1950, nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu quê hương đất nước. Ông thuộc lớp các thi sĩ Quảng Nam xuất hiện vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Chị Điện Hoà (1950) và Năm cụm núi quê hương (1954) của ông được nhiều người thuộc lòng, mãi cho đến nay. Đó là loại thơ kể chuyện, rất phù hợp với điều kiện lịch sử - xã hội vào thời điểm ấy. Năm 2011 Tường Linh đã thực hiện một tuyển tập thơ dày 672 trang do Nhà xuất bản Văn học phát hành với sự giúp đỡ của một số thân hữu.

Thơ đã xuất bản:
- Thơ tập làm thuở nhỏ (in thạch bản tại Tam Kỳ, 1950)
- Mùa đi (in thạch bản tại Bồng Sơn, 1953)
- Mùa hoa cải (in tại Huế, 1955)
- Mây cố quận (NXB Tao Đàn, Sài Gòn, 1962)
- Nghìn khuya (NXB Tao Đàn, Sài Gòn, 1965)
- Thu ơi từ đó (NXB Tao Đàn, Sài Gòn, 1972)
- Giọt cổ cầm (NXB Đà Nẵng, 1998)
- Về hỏi lại (NXB Đà Nẵng, 2001)
- Thơ Tường Linh tuyển tập...

 

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2021

Nguyễn Hữu Đổng: CỐ NHÂN, CỐ QUẬN...


 Tạp bút của Nguyễn Hữu Đổng 

 Lá bàng xưa thu đang rụng quanh đây... Cố nhân ơi ! không khóc mà mắt cay (Hạo Nhiên)

 Vĩnh Điện đẹp nhất khi nào, mùa nào ? Phương Nam không có nhiều thu vàng lá rụng, mà Vĩnh Điện không phải là phố trong Phố Phái, không có cánh rừng phong nhuốm màu quan san, không có hoa điệp vàng rải lang thang qua những nẻo đường. Những mùa đi qua với Vĩnh Điện bình thường, một thị trấn nhỏ trong hàng trăm thị trấn nằm trên đường thiên lý Bắc – Nam. Vĩnh Điện không đẹp như cách người ta nghĩ, thông thường, giản dị. Phố đẹp không như tranh. Chỉ cần người đẹp đến có khi phố thành ra đẹp. Chỉ cần cố nhân, phố trở thành cố quận. Cố nhân của Vĩnh Điện là ai ? Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Phùng Quán, Lê Trọng Nguyễn, và ai nữa ?... Tác giả của Tiếng Thu như con nai vàng ngơ ngác trước bao biến cố của thời cuộc. Hội An, Vĩnh Điện trở thành nơi Lưu Trọng Lư gắn bó một cõi đi về, gắn với những mối tình trong giây lát và cái tình ngàn thu. Ở cái thị trấn nhỏ đó, ông đã tìm thấy những người bạn “khi họ đọc thơ cho tôi nghe...họ đỏ cả mặt như lần đầu tiên nhìn một cô gái...”. Không phóng đại như thi nhân Phùng Quán tôn vinh Vĩnh Điện, Điện Bàn là “vùng đất yêu thơ nhất nước”, Lưu Trọng Lư khe khẽ lưu dòng kỷ niệm rất đời: “Bình thường tôi ngồi bên bàn, im lặng, năm ba bạn trẻ đến với tôi. Có khi họ xách cho tôi một nải chuối, một vài cây mía. Có khi một bông hoa đẹp ngắt từ vườn mình...có khi vài cuốn tiểu thuyết vừa mua ở hàng sách. Lâu ngày thấy tôi chưa kịp thay áo, họ dẫn tôi về nhà, múc từng gáo nước đổ vào chum... Áo quần tôi thay ra, họ tự giặt và phơi ngoài sân. Có khi họ đánh hơi thấy tôi sạch túi, họ kéo tôi đi ăn cháo lòng hay cháo lươn, góp từng đồng nhỏ nhét vào túi tôi...” (*) Một cách yêu thơ, yêu nhà thơ chân thành ! Yêu đến độ đắm say, nồng nàn. Nhưng sao mà kỳ quá, có ai lại dẫn nhà thơ tình nổi tiếng của Thơ Mới đi dạo...hàng thịt ? Người dẫn đi đã lạ, nhà thơ Tiếng Thu, con nai ngơ ngác cũng đi thì càng lạ. Thì ra ở phố chợ đó, có một cô nàng. “Cô gái có lẽ cũng đã quá tuổi ba mươi. Khách hàng của cô lúc nào cũng đông...cô gái múa con dao trên tay, xẻo từng thớ thịt đặt lên cân. Có lần anh Đảnh mở miệng hỏi tôi: “Được chứ anh? Chị con chú bác của em đấy”. Xuân, một thằng bạn khác, một hôm nói thẳng với tôi: “Thằng Đảnh muốn gả người chị họ của nó cho mày đấy. Con một, mồ côi cha, hai mẹ con tậu được ba mẫu ruộng” (**) Giả dụ mối “lương duyên” kia được xe chỉ thì sẽ như thế nào? Những chuyện vặt vãnh được ghi chép tưởng bâng quơ, ngụ cái cười rất hóm cho người ta thấy sự hồn nhiên, chất phác của phố, của những người yêu thơ ở Vĩnh Điện xưa. Nhưng có lẽ chỉ một lần duy nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, có giây phút thiêng liêng, giây phút sầu mộng nhất chính là khi ông ứng khẩu một đoạn thơ dài trước công chúng yêu thơ. Ông kể : “Một hôm, đi qua thị trấn Vĩnh Điện, một thị trấn nhỏ trên đường Đà Nẵng- Hội An, nơi tôi có nhiều bạn bè, có một số người quý mến tôi. Trước công chúng không đông, tôi đã đọc lại một số đoạn trong vở kịch Ngọc Du, Ngọc Duệ của tôi. Tôi là người xúc động nhất trước những câu thơ thất vọng của tôi....Lúc bấy giờ như có thần linh hỗ trợ, tôi ứng khẩu đọc cả một đoạn thơ dài như vô tận. Những điệu vần lên xuống, đối ứng dập dềnh...chẳng khác nào một cánh chim đập giữa trời- những vần thơ chìm nổi. Tôi ứng khẩu xong một đoạn dài nói về số phận của tôi, từng bước chìm nổi của tôi. Rồi im lặng nhìn lại chút tro tàn đang bay..tôi ngồi xuống sàn rồi quay đầu như để giấu đi những giọt nước mắt. Đó là một sự kiện chỉ xảy ra một lần trong đời văn học của tôi. Đoạn kịch thơ ứng khẩu đó, cũng không bao giờ tôi cố ghi chép lại. Việc này xảy ra với tôi chẳng khác nào như một giấc mộng” (***). Những nhà thơ nổi tiếng như Lưu Trọng Lư, Phùng Quán, tìm thấy ở Vĩnh Điện xưa cả một trời yêu thơ. Thị trấn nhỏ mà tâm hồn thênh thang như những cánh đồng. Từ đó, ai qua mà không thấy nỗi vấn vương của khói tỏa lam chiều trên những làng mạc bao quanh, trên cánh đồng Tha La xanh thẳm, trên những hàng cau Bất Nhị in dấu thời gian từng bậc, từng bậc của thân gầy... Nguyễn Tuân, “cây tùy bút” hàng đầu đất Việt cũng qua đây để lại một đoạn kể về Bến Điện đầy nhớ thương, trải nghiệm. Nếu Lưu Trọng Lư trong cảnh mồ côi vợ ngược dòng lên Kỳ Lam để gửi hai con cho anh chị nuôi dưỡng, thì sau đó lại có Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Kỳ Lam về Gò Nổi để như con chim bói cá già tựa một nhà hiền triết quan chiêm Đứa con phù sa. Rồi Sơn Nam, nhà văn Nam Bộ tài tử cũng một lần qua Điện Bàn để viết chuyện “Đi chơi ở Quảng”. Cùng đi với ông, là tác giả “ Hương Máu”, “nhà Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân lại đọc thơ cho các cô học trò trường Nguyễn Duy Hiệu với một trời đâu suất si tình... Người tài, người thơ, người đẹp đi qua nẻo đường nào thì gieo cho nơi ấy một chữ hoài, cho nơi ấy trở thành cố quận. Tôi “cảo thơm lần giở”, đọc lại những dòng xưa của cố nhân mà thảng thốt nỗi quan hoài về thị trấn nhỏ của mình. Những trang văn có thấm đẫm chất đời hay không thì chỉ cần qua phố ấy, chỉ cần lưu lại nơi phố ấy chút kỷ niệm của cố nhân. Đây là nỗi thảng thốt có thực, mà chính cố nhân đã tìm về : “Sau ngày đất nước giải phóng, tôi trở về mong gặp lại những gương mặt nho nhỏ đó của Hầu, Bạc, của Đảnh (những người bạn ở Vĩnh Điện của nhà thơ Lưu Trọng Lư - NV). Nhưng chưa bao giờ tôi còn được nhìn vào đôi mắt trong trẻo của những con nai nhỏ của đời tôi nữa?...Mất các bạn, nỗi vui đoàn tụ mất đi gần một nửa, các bạn có biết không ? Các bạn là tất cả tuổi trẻ của tôi, và mãi mãi là tuổi trẻ của tôi. Trong bao đau thương đen tối của đời tôi, các bạn là những điểm sáng” (****). Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư, Phùng Quán, Nguyễn Văn Xuân... giờ chỉ còn trong gió thu. Vĩnh Điện sẽ còn lại gì nếu không níu giữ tiếng thu, tiếng xuân, tiếng tơ lòng giăng mắc của cố nhân ?.

N.H.Đ

 ----------------- 

(*), (**), (****): Dưới ngàn sao- Lưu Trọng Lư

 (***): Tro tàn giấy bay, Rút từ Hồi ký “ Nửa đêm sực tỉnh” của Lưu Trọng Lư.

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

Trần Đức Anh Sơn: THU BỒN - TRÀ KIỆU - HỘI AN TRONG MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI THỜI LÂM ẤP - CHAMPA VÀ THỜI CHÚA NGUYỄN


Link liên kết Trần Đức Anh Sơn: THU BỒN - TRÀ KIỆU - HỘI AN TRONG MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI THỜI LÂM ẤP - CHAMPA VÀ THỜI CHÚA NGUYỄN

1. Trong cuốn sách Lưu dấu Champa Cố đô Simhapura - Trà Kiệu thế kỷ I đến thế kỷ XI do cố Linh mục An-Tôn Nguyễn Trường Thăng biên soạn[1], có giới thiệu một đồng tiền lạ được tìm thấy trong một cuộc khai quật khảo cổ học tại thành Trà Kiệu. Đồng tiền này đã được gửi đến Viện Tiền đồng và Huy chương thuộc Bảo tàng Anh quốc (The British Museum) để giám định vào năm 1994.

Kết quả giám định cho biết đó là đồng dinar bằng vàng, đúc tại Hamadan (nay thuộc Iran). Đồng dinar này được đúc dưới triều đại Abbasid, thuộc vương triều Caliph Al-Muktafi Billah Abbasid trị vì từ năm 289 đến năm 295 theo Hồi lịch, tức là từ năm 902 đến năm 908 theo Tây lịch. Việc xuất hiện đồng dinar của một xứ sở Hồi giáo tận Trung Đông, có niên đại vào thế kỷ X, ở Trà Kiệu là một bằng chứng cho thấy đã có sự giao thương giữa Champa với các nước Trung Đông từ thế kỷ X. Và Trà Kiệu, kinh đô của Champa lúc bấy giờ đã là một trung tâm kinh tế - chính trị của vương quốc Champa cổ đại, trước khi trở thành một trọng địa trong mạng lưới thương mại nội vùng (kết nối giữa miền xuôi và miền ngược), cũng như trong mạng lưới hải thương quốc tế (kết nối giữa Việt Nam với thế giới bên ngoài) vào thời các chúa Nguyễn trị vì Đàng Trong.

Câu chuyện trên đây phản ánh một hiện thực liên quan đến vai trò của “trục giao thương” dựa vào sông Thu Bồn, dòng sông Mẹ của xứ Quảng, cùng các chi - phụ lưu của nó tạo thành một “mạng lưới trao đổi ven sông” (riverine exchange network), kết nội cảng thị Hội An, kinh đô Trà Kiệu với vùng rừng núi phía Tây Quảng Nam; thông thương với “con đường tơ lụa trên biển” (maritime silk road) trong thời đại Đại thương mại (Grand Commerce Age) vào các thế kỷ XVII - XVIII.

2. Sông Thu Bồn bắt nguồn từ núi Ngọc Linh trên dãy Trường Sơn, chảy vào địa phận Quảng Nam, hợp lưu với sông Vu Gia, chảy qua trước thành Trà Kiệu (Duy Xuyên). Đến làng Văn Ly (Điện Bàn) thì sông chia thành hai dòng nam (sông Cái) và bắc (sông Thu Bồn). Hai dòng tách ra ôm Gò Nổi vào lòng rồi nhập với nhau tại bến Câu Lâu (giang cảng của dinh trấn Thanh Chiêm). Từ đó dòng Thu Bồn xuôi về Hội An để đổ ra cửa Đại.[2]

Sách Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên (người Trung Quốc), viết vào thế kỷ IV, khi đề cập vương quốc Lâm Ấp[3] đã gọi sông này là Hoài giang, từ đó mới khai sinh địa danh Hoài phố (tức Hội An) sau này, và người Tây phương chép thành Faifo. Vào thời kỳ Champa, do sông chảy qua đô thành Simhapura (tức thành Trà Kiệu) của tiểu quốc Amavarati nên sông có tên gọi là Kraun Simhapura. Trong Chiêm ngữ, Kraun là “sông”, Simhapura là “Đô thành Sư tử” nên Kraun Simhapura có nghĩa là “sông Đô thành Sư tử”. Danh xưng Kraun Simhapura được nhà khảo cổ người Pháp Louis Finot (1864 - 1935) phát hiện vào năm 1903 khi ông đọc một văn bia Chăm do vua Jaya Harivarman I cho dựng ở Mỹ Sơn.[4]

Thời Nguyễn (1802 - 1945), các sách dư địa chí nhà Nguyễn đều ghi tên sông Thu Bồn là Sài Thị giang (柴市江: sông Chợ Củi) hay Sài giang (柴江) do sông chảy qua Chợ Củi ở bến Câu Lâu, nơi có một khu chợ bán củi sầm uất nằm phía tây nam Dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm (nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).[5]

Tên Thu Bồn xuất hiện từ lúc nào, đến nay vẫn chưa rõ. Chỉ biết rằng, vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đậu thuyền trên sông này và viết bài thơ Thu Bồn dạ bạc (Đêm đậu thuyền bến Thu Bồn) lưu truyền cho hậu thế. Như vậy là tên Thu Bồn phải có trước thời điểm vua Lê Thánh Tông trên đường “bình Chiêm” đã dừng chân nơi đây vào năm 1471.

Trong suốt thời kỳ Lâm Ấp - Champa, hay như cách gọi của GS. Trần Quốc Vượng, là “thời kỳ trước Việt”, thì Thu Bồn chính là dòng sông Mẹ, là mạch nguồn tươi mát bồi đắp phù sa cho vùng châu thổ Quảng Nam; là nơi cung cấp sinh kế cho các cộng đồng cư dân bản địa sinh tụ ở đây: từ người Chăm ở vùng cận duyên cho đến các sắc dân thiểu số ở thượng nguồn xứ Quảng. Dòng sông, cùng với các chi - phụ lưu của nó đã tạo nên hệ thống thủy đạo kết nối miền biển, vùng hạ du và vùng cao xứ Quảng. Đây là mạng lưới giao thương cung cấp muối và các sản phẩm từ biển cho đồng bào miền ngược; thâu nhận lâm thổ sản từ vùng cao chở về đồng bằng duyên hải, tiếp nhận nông lâm sản, hàng thủ công ở hạ du, tập trung về Chiêm cảng để giao thương với thương nhân nước ngoài.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông: “Trước khi có dấu chân người Việt tiếp nhận chính thức vùng đất miền Trung, lịch sử đã bày ra ở đây một “bàn cờ” nhộn nhịp bằng các đầu mối giao thông và trao đổi hàng hóa ở những cửa sông, cảng biển. Là nơi nối miền núi với miền xuôi, nối mối quan hệ giữa các vương quốc Nam Ấn, vùng Địa Trung Hải, Đông Á, Đông Nam Á với các châu lục khác. Đó chính là yếu tố gợi mở, tạo nên bước chuyển đáng kể cho các chủ nhân người Việt kế thừa và hình thành những điểm nhấn quan trọng, xác lập những mối quan hệ trong hoạt động ngoại thương. Hội An (Kẻ Chiêm, Đại Chiêm hải khẩu) chính là sự tiếp nối làm nên sức sống mới cho xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn”.[6]

Khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) và sau đó kiêm quản cả xứ Quảng (1570), hợp thành vùng đất Thuận - Quảng, vùng đất phên dậu cực Nam của Đại Việt và là bàn đạp để các thế hệ kế tục ông mở cõi về phương Nam, thì xứ Quảng đã là nơi được lựa chọn để phát triển thành một “đặc khu kinh tế”, làm tiền đề để phát triển Đàng Trong thành một vương quốc hùng mạnh, đủ sức đương đầu với Đàng Ngoài.

Với phương châm “chúa ở phủ, thế tử ở dinh”, các chúa Nguyễn từ Nguyễn Phúc Nguyên đến Nguyễn Phúc Tần đã liên tiếp cử các thế tử (con trai trưởng của các chúa) vào trấn thủ ở xứ Quảng, cho lập dinh Quảng Nam như một đơn vị hành chính đặc biệt, áp dụng các chính sách cởi mở về thương mại (đặc biệt là ngoại thương), đồng thời tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, thúc đẩy các ngành nghề thủ công, tăng cường giao lưu buôn bán nội vùng… để phát triển kinh tế. Các chúa Nguyễn đã “kế thừa một cách khôn ngoan và sáng tạo bản quy hoạch theo đường sông Thu Bồn từ các Chiêm vương”[7], phục hưng Chiêm cảng xưa với tên gọi mới là Hội An, biến nơi đây thành một cửa ngỏ quan trọng bậc nhất để thông thương với bên ngoài.

Trong bối cảnh lịch sử mới, sông Thu Bồn vẫn giữ vai trò chủ đạo trong mạng lưới kinh tế nội vùng. Theo GS. Trần Quốc Vượng, “các thương thuyền bạn hàng cũ của Champa vốn quen thuộc với Chiêm cảng thì vẫn ghé qua lại nơi đây. Hải Phố - Hội An cùng với những bạn hàng mới (Nhật Bản, phương Tây) vừa tới cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây và Nhật Bản. Người Việt xứ Quảng trong những thế kỷ XVI - XVIII: vẫn tận dụng được những truyền thống của đồng quê Bắc Bộ và của người Chàm cổ về trồng dâu chăm tằm, ươm tơ, dệt lụa trên đôi bờ Thu Bồn mà có nguồn xuất khẩu lớn về tơ lụa; vẫn tận dụng và khơi sâu những nguồn lợi về rừng ở cả ba nguồn Thu Bồn, Vu Gia, Chiên Đàn mà xuất khẩu lâm thổ sản (gỗ quí, quế, trầm hương, mật ong...). Ba nguồn rừng, ba nguồn sông những mạch máu giao thông từ thẳm sâu cơ thể xứ Quảng phong nhiêu dồn tỏa ra biển Cửa Đại trong cùng một dòng sông Thu Bồn - Sài Thị đôi bờ ngàn dâu xanh ngắt một màu bộc lộ một nền kinh tế khỏe khoắn và vẫn còn giàu tiềm lực ở một miền đất rất cổ nhưng cũng rất mới mà lớp chủ nhân mới là những di dân cởi mở hơn trong tâm thức và thế ứng xử biết làm ruộng nhưng cũng biết buôn, biết bán”.[8]

3. Đóng vai trò chính trong sự hưng thịnh của xứ Quảng nói riêng, Đàng Trong nói chung trong thời kỳ này chính là thương cảng Hội An. Nơi đây là đầu mối kết nối thương mại quốc tế với thương mại nội vùng của xứ Đàng Trong. Theo đó, sông Thu Bồn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ nội địa đến thương cảng Hội An để xuất khẩu, và phân phối hàng hóa nhập khẩu qua thương cảng Hội An đến các vùng miền, từ hạ du đến thượng nguồn, thông qua mạng lưới thủy đạo gồm các sông: Thu Bồn, Trường Giang, Cổ Cò, Li Li, Vu Gia…

Nhờ vị trí đắc địa mà Hội An trở thành một giang - hải cảng (riverino - maritime port) bởi nơi đây là ngã tư đường thủy, hợp lưu của ba con sông, sông Thu Bồn, sông Cổ Cò và sông Trường Giang trước khi đổ ra cửa Đại Chiêm. Hải thuyền có trọng tải lớn, cũng như những chiếc ghe bầu chở hàng hóa nhỏ hơn đều dễ dàng cập bến. Hội An là một ngã tư quốc tế khi nằm trên giao lộ của hải trình từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại; hơn nữa Hội An còn là cái cửa mở lối vào nội địa cũng như từ nội địa ra đại dương.[9]

Theo những ghi chép của Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục, thuyền buôn nước ngoài đến Hội An mang theo các mặt hàng may mặc, vải, giấy, đồ đồng, đồ gỗ, sành sứ, đồ thờ cúng, tạp hóa, thực phẩm, dược phẩm. Trong đó, đồ sành sứ chiếm tỉ lệ 4,64%, đứng hàng thứ tư trong số các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhập khẩu vào Hội An.[10] Về hàng xuất khẩu, Hội An xuất ra nước ngoài các mặt hàng: gỗ, đặc sản quý hiếm (như sừng tê, ngà voi, trầm hương, yến sào), hải sản, kim loại, nông sản thực phẩm, hàng thủ công, dược phẩm.[11]

Theo GS. Charles Wheeler, một trong những học giả tiên phong của chủ thuyết riverine exchange network (mạng lưới trao đổi ven sông), thì cảng Hội An là một điểm sáng về mậu dịch khu vực, trong mối quan hệ hội nhập một cách thuần thục và quan trọng, đối với con đường hàng hải liên quốc gia. Đây là cảng biển cực thịnh trong suốt các thế kỷ XVII - XVIII, được dùng như một điểm xuất nhập khẩu với những chuyến tàu phục vụ cho mậu dịch hàng hải ở châu Á. Có được sự phồn thịnh trên là nhờ những chiếc thuyền vận chuyển trong thủy lộ ven biển, nối kết các cửa sông lại với nhau, thông thương với các sông ngòi trong nội địa ở xứ Quảng để mở rộng hoạt động giao thương, tìm nguồn hàng phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cũng như tái phân phối hàng hóa nhập khẩu vào Đàng Trong.[12]

Thế kỷ XVII - XVIII là thời đại Đại thương mại (Grand Commerce Age), bước khởi nguyên của chủ nghĩa tư bản hiện đại, Hội An may mắn nằm trên tuyến đường buôn bán tơ lụa, gốm sứ và hương liệu tấp nập nhất thế giới nên đã từng đưa đón bao chuyến thương thuyền của người Tây phương, người Nhật và Trung Hoa ghé qua. Các đời chúa Nguyễn đều nhận thức rõ điều đó nên chỉ cần có thêm một chính sách ngoại thương thông thoáng thì Hội An trở thành bầu sữa nuôi sống cả vương triều Đàng Trong. Đó là lý do tại sao Hội An trở thành một thương cảng sầm uất không chỉ ở Đại Việt mà cả vùng Đông Nam Á trong hơn hai thế kỷ XVII và XVIII.[13]

Có thể nói rằng, với dòng sông Thu Bồn làm trục giao thương chính, Trà Kiệu và Hội An là hai trọng địa chính trị - kinh tế trên trục giao thương ấy trong các thời kỳ Lâm Ấp - Champa và thời chúa Nguyễn, xứ Quảng và rộng hơn là miền Trung và Đàng Trong đã có một nền kinh tế phát triển, trong đó thương nghiệp đóng vai trò xương sống của nền kinh tế.

Đặc biệt, kể từ khi các chúa Nguyễn vào tiếp quản vùng đất cũ của người Chăm, lập nên vương quốc Đàng Trong tự cường, tự chủ, tách bạch với Đàng Ngoài thì mạng lưới kinh tế dựa trên trục giao thương Thu Bồn - Trà Kiệu - Hội An càng giữ một vai trò quan trọng, tác động đến sự hưng thịnh của cả vương quốc Đàng Trong.

Hay như nhận xét của Li Tana trong bản luận án tiến sĩ xuất sắc, viết về lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam vào các thế kỷ XVII - XVII, rằng: “Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn bảo đảm rằng, chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam, chỉ trong vòng ít thập niên, trở nên giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía bắc và mở rộng về phía nam. Không có thương mại, Đàng Trong khó có thể tồn tại nổi cho dù tài nguyên thiên nhiên có dồi dào, vì những khó khăn mà vương quốc này phải đương đầu. Thiếu nhân lực, thiếu tiền của, không có sẵn quan hệ với bên ngoài và nhiều khó khăn khác, nhất là khi phải xây dựng trên một vùng đất mới giành được từ một dân tộc khác, có một nền văn hóa khác. Ngoại thương trở thành yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong. Ngoài thương nghiệp không có gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực để có thể đương đầu nổi với một vùng đất có nhiều tiềm lực gấp đôi, gấp ba Đàng Trong về mọi mặt. Đối với các nước khác ở Đông Nam Á, vấn đề ngoại thương chỉ là vấn đề làm giàu, nhưng đối với Đàng Trong vào buổi đầu, đây là vấn đề sống chết”.[14]

Đó cũng chính là sự đóng góp của xứ Quảng vào vận mệnh của Đàng Trong, của Việt Nam trong lịch sử vậy.

T.Đ.A.S.

Bài in trên XUÂN DUY XUYÊN 2021 (tr. 41 - 45).
-----------
Chú thích:

[1] Linh mục An-Tôn Nguyễn Trường Thăng (Sưu tầm và biên soạn), Lưu dấu Champa Cố đô Simhapura - Trà Kiệu thế kỷ I đến thế kỷ XI, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017, tr. 80.

[2], [5], [7], [9], [13] Đinh Bá Truyền, Sông Thu Bồn, https://www.facebook.com/truyen.dinhba/posts/1297567306926592

[3] Lâm Ấp (林邑) là một vương quốc đã tồn tại từ khoảng năm 192 đến năm 605, tại vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam hiện nay. Vương quốc này được coi là tiền thân của vương quốc Champa sau này.

[4] Louis Finot, “Notes d’épigraphie: XI. Les inscriptions de Mĩ-Sơn”, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1904, Volume 4, Numéro 1, p. 915. Dẫn theo: Đinh Bá Truyền, Bài đã dẫn.

[6] Nguyễn Hữu Thông, “Biển trong lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn của Charles Wheeler (Dẫn liệu từ vùng Thuận Quảng)”, Nghiên cứu Lịch sử, Số 10.2011, tr. 36.

[8] Trần Quốc Vượng, “Chiêm cảng Hội An với cái nhìn về biển của người Chàm và người Việt”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học về Khu phố cổ Hội An (23 - 24.7.1985). Dẫn lại từ: https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/Chiem-cang-Hoi-An-voi-cai-nhin-ve-bien-cua-nguoi-Cham-va-nguoi-Viet-407.html

[10], [11] Lê Quý Đôn, Toàn tập, tập 1 (Phủ biên tạp lục), Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr. 357-358.

[12] C. Wheeler, “Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Intergration of Thuan Quang, Seventeenth-Eighteenth Centuries”, Journal of Southeast Asia Studies, 37.1 (Feb, 2006), pp. 123-154.

[14] Li Tana, Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18, Nxb Trẻ, TPHCM, 1999, tr. 85.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

Hòa Văn: THẤT THANH...





Không gì vui bằng ngồi bên em

Không gì không gì... lo bằng ngồi đón bão
Sự ve vuốt mơn trớn
Khắp mọi miền da thịt tôi
Lên gai gốc kinh khủng
Em hiền như bài hát ru điệu buồn gió thốc
Ngược lên trái tim vụng dại lỡ yêu người hơn cơn lốc
Bão có thể tàn phá một miền trong nháy mắt
Em níu cả đời không buông!

*

Đêm giằng giật gió bão
Hung hãn tận cùng thất thanh
Vòng xoáy cuốn hút
Lạnh lùng vô cùng
Con người nhỏ hơn cây sậy!
Ngó về đâu cũng buồn!.

Hòa Văn
Đêm đón bão 13 (Vamco)
          14.11.2020
-----
Ảnh internet

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Hòa Văn: RỪNG... RƯNG RƯNG

  

       HỒI mới hòa bình về lại quê, Tri có một thời cùng anh em thanh niên trong xã đi nông trường Quyết Thắng trồng chè nên gọi Tri chè, để phân biệt với Tri ở cuối xóm – tới giờ trên năm lăm tuổi rồi mọi người vẫn gọi thế. 

      Lâu quá tôi mới có dịp ghé lại nhà thăm và rủ nhau đi lên đồi núi chơi. Ông Tin cha của Tri chè, người trông hơi mệt nhưng vui lắm vì trước đây khi chưa đi Sài Gòn, tôi thân với gia đình và cùng Tri đi trầm. Ông Tin tuổi đã trên tám mươi, da dẻ hồng hào, người cứng cáp sắc thái đĩnh đạc. Tôi khen “Tri ở vậy nuôi ông già, chắc ghê!” Hình như câu lỡ lời của tôi chạm vào nỗi niềm thầm kín của ông, khi đứa con trai độc nhất ở tuổi “tri thiên mệnh” rồi mà chẳng chịu lập gia đình, khiến ông Tin buồn thiu quay mặt vào vách tường khúc khắc ho. 

Tôi đánh trống lảng: “Như Tri mà được, chứ kiểu thằng Vương có vợ bằng không!” Ông Tin nói: “Kể chi vợ con thằng nớ!”. 

Tri chè cười cười rồi giục tôi đi kẻo trễ. Nhìn những quả đồi trơ trụi, tôi bần thần như người mất hồn, không tin nỗi cớ sự đến như thế nầy!. Nơi mà chỉ cách đây hai mươi mấy năm rừng có rất nhiều loại gỗ quí hiếm, cây lá bạt ngàn, đi cả ngày không thấy vạt nắng nào rộng hơn cái nong phơi lúa. 

 Tri nói: “Mấy hôm nay trời mưa không khí dịu bớt, chứ nếu không chừ oi bức nắng rát da không chụi nỗi đâu!!”. 

 Đâu rồi tiếng chim hót véo von, tiếng nước suối róc rách chảy! Dạo ấy tôi rất thích vườn chim cu gáy ở nơi đây. Không rõ chúng tụ tập lại làm tổ từ bao giờ, mà sinh nở ra rất đông đúc. Khi chứng kiến cảnh chim mẹ đút mồi cho con ăn mới thấy hết tình “mẫu tử” của loài vật đâu kém con người?. Mỗi lần nghe tăm hơi chim mẹ vỗ cánh bay về, chim non nằm trong ổ nôn nả há mỏ to hết cỡ để chim mẹ mớm mồi. Mọi sự việc bình thản đáng yêu quá! Được cái không ai phá phách tổ hay bắt chim nhờ thế đàn chim chẳng có chút gì sợ sệt con người. Thế mà giờ… Tri kéo tôi đi…  

                                      ***

        Hương trời đất theo gió bám vào nơi trầy xướt trên thân cây dó bầu, lâu ngày biến thành trầm hương. Đó là theo tương truyền dân gian còn khoa học xác định khi cây dó bị thương tích, chất dầu trong cây tụ lại đề kháng bệnh, dần dần chuyển hóa thành trầm. Kinh nghiệm những cây dó có trầm thân cành thường xơ xác.

 Những chuyến đi tìm trầm hương kéo dài. Có một đêm đang ngủ say, tôi bổng thấy tất cả rừng bị huỷ diệt. Không như chuyện cổ tích Công chúa ngủ trong rừng, từng nghe cậu Tám kể hồi còn học lớp 4 trường làng, với bao hình ảnh tươi đẹp của quê hương, nào là có bà tiên Hiền, cô tiên Lành, trìu mến yêu thương trẻ thơ, khuyên nhủ mọi người hãy giữ gìn môi trường sinh thái tự nhiên và lúc nào cô Tiên cũng tặng cho tuổi thơ những điều ước tốt đẹp. 

 Trong cơn ác mộng tôi thấy bọn quỷ dạ xoa đang tâm đốt cả đại ngàn. Lửa ngùn ngụt bốc cháy, cháy, cháy… Muông thú chạy tán loạn… Cây cối to nhỏ quằn quại đau đớn trong lửa đỏ. Bầu trời mù mịt khói và tro bụi. Từng đàn, từng đàn chim chơi vơi bay, bay… Không biết chúng chạy và bay về đâu?. Bị mắc kẹt bịt bùng trong đám lửa khói cháy, tôi hoảng hốt, miệng ú ớ liên hồi... chân cố hết sức chạy thoát, nhưng chẳng được… cả người như đang bị một vật gì đó quá nặng đè bẹp xuống đất... 

Bỗng bà Tiên Hiền xuất hiện nắm tay tôi kéo bay vút đi lên không trung. 


                                *** 

 

        Mới đó đã qua trên hai mươi mấy năm. Giờ không chỉ là giấc mơ, mọi việc đang xảy ra rành rành... Rừng… rưng rưng. 

       Tri chè vẫn y nguyên hồi xưa, suốt một buổi tâm sự chuyện cũ chuyện mới rôm rả, mặc cho ai nói gì thì nói anh chỉ ngồi cười cười, nụ cười giống hệt nụ cười của các bà mẹ vùng trung du nầy, rất hiền và ẩn chứa mạch sống mãnh liệt của núi rừng thuở nào!. Nhiều người tỏ ý lo ngại trước sức tàn phá không nương tay của con người, núi rừng sông suối ngày một hoang tàn, môi trường bị huỷ hoại…

        Tri chè cũng chỉ cười cười nói: “Biết làm răng chừ!”./. 

        Hòa Văn

        (4/2012)

-----

Ảnh: Internet

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2020

Hòa Văn: CÒN GÌ KHÔNG?


 Còn gì không? (*)
Bên dưới lớp đất đá nầy bao sinh linh nghẹt thở 
Xin nguyện cầu Đấng Thiêng Liêng độ trì 
Chỉ cần một hốc đá chỉ còn hở chút là còn hơi thở 
Chỉ cần chỉ cần... than ôi! 

 Lúc này xin đừng phí phạm lượng oxy... 
Bao sinh linh là bà con ta đang rất cần cần một chút thôi! 
Nhanh tay lên đôi bàn tay đang bới đất đá... 
Bên dưới những bàn tay là sự sống đang lụi dần... 
 
Không thể kêu cứu!
 Quanh là đất và đá! 
Sự vùi lấp kinh hoàng 
Như tia chớp
 Thảm thương thay!.
 ... 

***

Không còn lời để nói 
Không còn điều gì để nói tất cả đang ở sâu trong lòng đất đá 
Xóm tan hoang 
Nhà tan hoang 
Chưa bao giờ cơn địa chấn ập xuống miền núi quê tôi khốc liệt như thế! 
Có nhà 8 người chết hết chỉ còn một là nhờ không có ở nhà!
 ... 
 Cả nhà chết hết! 
Tin nhói trái tim... 
... 
 Ôi! Tiếng thét giữa rừng
 Âm vang âm vang tứ bề 
 Ôi! Tiếng khóc giữa rừng 
Âm vang âm vang tứ hướng 
Nỗi đau tận cùng đứt ruột 
Mà làm sao giờ em ơi! 
Đôi mắt chứa bao niềm uất ức! 
Em nhìn lên khoảng trời  
Có thấy gì đâu 
 Ngoài hư không... 
 Không trống không kèn
 Không hòm không quách 
Chỉ mấy gói mì tôm bẻ đôi
 Đặt trên mộ mẹ mộ cha ngay bên nơi vừa bị đất đá vùi lấp 
Một ngày mùa đông
 Không giặc không đạn Ầm ầm thác lũ Ông bà mẹ cha anh em con cháu chết trong nháy mắt! 
 Chết không kịp ngáp 
Không lời thở than 
Không không ... 
Không biết tại sao phải chết 
Vì tiền? 
Vì tình? 
Vì... 
Có trời chứng tri 
Tội lỗi này ai mang 
Không biết 
Vô tri 
Vô thức 
Vô giác 
Vô lối 
Vô luân 
Vô đạo! 

 Không thể chọn nơi sinh 
Con người có quyền chọn nơi ở? 
Hởi ôi! Bên bờ suối bên sườn đồi bên nương rẫy... 
Thi vị quá thi vị 
Thật thà rất thật thà 
Chỉ cần con nhái 
Chỉ cần củ sắn lùi 
Chỉ cần vốc nước lạnh 
Đủ rồi một kiếp nhân sinh 
Đã từng thấy như thế...
 Đã từng như thế! ...
Người ở miền núi có đôi mắt như thôi miên 
 Đôi mắt muốn nói bao điều yêu thương 
 Lại là đôi mắt buồn thấu tâm can 
Mọi thứ sẽ chìm vào quên lãng? 
Nỗi đau còn lại!.


***

Không còn gì!
Câu trả lời
Lạnh lùng
Hiu quạnh
Bơ vơ
Tới cái xoong nhôm còn xẹp lép
Thử hỏi thân xác con người nào chịu nổi
Không còn gì
Ngoài sự lặng câm của đất và đá
Sự im lặng đúng là quá đáng sợ
Ở nơi núi không ra núi đồi chẳng ra đồi sự sống tính bằng giây là bình thường
Bình thường đáng sợ
Sức chịu đựng của con người thật vô cùng
Ơi!
Vô cùng
Vô tận
Chỉ có lương tâm mới cứu được sự thật kinh khủng đang diễn ra
Chỉ có lương tri mới cứu được sự tàn lụi của con người
Lương tâm
Lương tri ơi!.


🔊

-----
(*): Sạt lở núi ở Quảng Nam
Thông tin ban đầu cho biết, trận mưa lớn kéo dài kèm hoàn lưu bão số 9 đã xảy ra liên tục từ 4h đến 19h hôm qua (28.10) đã gây sạt lở nhiều nơi. Tại thôn 6, xã Phước Lộc đã xảy ra sạt núi, vùi lấp 11 người dân mất tích. Do đường bị sạt lở, chia cắt giao thông hoàn toàn, thông tin liên lạc bị gián đoạn nên sáng nay, cán bộ cơ sở mới cắt đường, vượt núi, đi bộ ra đến huyện để cấp báo. 
 Ảnh Người dân nỗ lực tìm kiếm người mất tích. 
 Hiện người dân tại thôn 6 đã tìm được 3 thi thể. Cán bộ xã Phước Lộc và huyện Phước Sơn đang tổ chức lực lượng tiếp cận hiện trường. Dự kiến, 16h hôm nay, lực lượng xã mới tiếp cận được vụ sạt lở. 
 Được biết, khu vực sạt lở thôn 3, xã Phước Lộc có 32 hộ với 215 nhân khẩu. Vụ sạt lở còn khiến nhà cửa, tài sản của người dân bị hư hỏng. Trước đó, 2 cán bộ xã Phước Lộc gồm Hồ Văn Sợ, 25 tuổi, cán bộ dân vận, Hồ Văn Độ, 28, phó Bí thư xã đoàn cùng 3 cán bộ khác đến các thôn kiểm tra, hỗ trợ dân sơ tán. Trên đường đi, 2 cán bộ nêu trên bị sụt đất, rơi xuống suối, bị cuốn trôi. Như vậy, riêng xã Phước Lộc hiện có đến 13 người mất tích.
(*): Vụ sạt lở đất ngày 28/10 xảy ra tại thôn 1 (xã Trà Leng, Nam Trà My, Quảng Nam) vùi lấp 15 hộ dân, 33 người may mắn sống sót, 9 thi thể được tìm thấy, 13 người hiện (4/11/20) vẫn còn mất tích, trong đó có Bí thư xã Trà Leng.
 
(*): Thông tin từ Ban Chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh Quảng Nam, trong đợt mưa bão số 9, tại khu vực các huyện miền núi của tỉnh có 22 người chết, 46 người bị thương và 24 người đang còn mất tích do sạt lở đất, nước cuốn trôi. Trong đó, tại thôn 1, xã Trà Leng (huyện Nam Trà My) còn 14 người và xã Phước Lộc (huyện Phước Sơn) còn tám người đang mất tích...


Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

Hòa Văn: BÃO VỚI QUÊ




Quê mình sắp bão tới em ơi! 

Cả dải đất vừa qua trận lũ 

Giờ gió to bão lớn sao trời!

 ...  


Dẫu bao đời trần tình nỗi khó 

Dẫu bao phen hứng chịu nhọc nhằn 

64 Giáp Thìn còn nhớ như in 

Bão lũ trôi một làng sóng cả!

  

Ơi! quê mình Quảng Nam vất vả 

Áo với cơm và lẫn tai ương 

Thiên nhân tai ngày càng bất thường 

Mang đến thêm càng nhiều tổn thất! 


Biết là thế! quê mình rất thật...! 

Mong cùng nhau đồng lòng dốc sức 

Tay nắm tay Quảng Nam vượt qua... 

Lụt bão nào khuất phục được ta! 


 Đất và Người Xứ Quảng yêu thương! 

Mỗi tin bão tim người thắt lại 

Nghe bão tan khắp nơi mừng vui 

Ơi! anh biết lòng em mong ước 

Quê hương mình ngày một sáng tươi!.


Hòa Văn 

10h 30 11/10/20 

P/s: Viết xong nhận tin cuối cùng bão số 6 đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới. Tin vui khắp mọi nhà!.