Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

Trần Đức Anh Sơn: THU BỒN - TRÀ KIỆU - HỘI AN TRONG MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI THỜI LÂM ẤP - CHAMPA VÀ THỜI CHÚA NGUYỄN


Link liên kết Trần Đức Anh Sơn: THU BỒN - TRÀ KIỆU - HỘI AN TRONG MẠNG LƯỚI THƯƠNG MẠI THỜI LÂM ẤP - CHAMPA VÀ THỜI CHÚA NGUYỄN

1. Trong cuốn sách Lưu dấu Champa Cố đô Simhapura - Trà Kiệu thế kỷ I đến thế kỷ XI do cố Linh mục An-Tôn Nguyễn Trường Thăng biên soạn[1], có giới thiệu một đồng tiền lạ được tìm thấy trong một cuộc khai quật khảo cổ học tại thành Trà Kiệu. Đồng tiền này đã được gửi đến Viện Tiền đồng và Huy chương thuộc Bảo tàng Anh quốc (The British Museum) để giám định vào năm 1994.

Kết quả giám định cho biết đó là đồng dinar bằng vàng, đúc tại Hamadan (nay thuộc Iran). Đồng dinar này được đúc dưới triều đại Abbasid, thuộc vương triều Caliph Al-Muktafi Billah Abbasid trị vì từ năm 289 đến năm 295 theo Hồi lịch, tức là từ năm 902 đến năm 908 theo Tây lịch. Việc xuất hiện đồng dinar của một xứ sở Hồi giáo tận Trung Đông, có niên đại vào thế kỷ X, ở Trà Kiệu là một bằng chứng cho thấy đã có sự giao thương giữa Champa với các nước Trung Đông từ thế kỷ X. Và Trà Kiệu, kinh đô của Champa lúc bấy giờ đã là một trung tâm kinh tế - chính trị của vương quốc Champa cổ đại, trước khi trở thành một trọng địa trong mạng lưới thương mại nội vùng (kết nối giữa miền xuôi và miền ngược), cũng như trong mạng lưới hải thương quốc tế (kết nối giữa Việt Nam với thế giới bên ngoài) vào thời các chúa Nguyễn trị vì Đàng Trong.

Câu chuyện trên đây phản ánh một hiện thực liên quan đến vai trò của “trục giao thương” dựa vào sông Thu Bồn, dòng sông Mẹ của xứ Quảng, cùng các chi - phụ lưu của nó tạo thành một “mạng lưới trao đổi ven sông” (riverine exchange network), kết nội cảng thị Hội An, kinh đô Trà Kiệu với vùng rừng núi phía Tây Quảng Nam; thông thương với “con đường tơ lụa trên biển” (maritime silk road) trong thời đại Đại thương mại (Grand Commerce Age) vào các thế kỷ XVII - XVIII.

2. Sông Thu Bồn bắt nguồn từ núi Ngọc Linh trên dãy Trường Sơn, chảy vào địa phận Quảng Nam, hợp lưu với sông Vu Gia, chảy qua trước thành Trà Kiệu (Duy Xuyên). Đến làng Văn Ly (Điện Bàn) thì sông chia thành hai dòng nam (sông Cái) và bắc (sông Thu Bồn). Hai dòng tách ra ôm Gò Nổi vào lòng rồi nhập với nhau tại bến Câu Lâu (giang cảng của dinh trấn Thanh Chiêm). Từ đó dòng Thu Bồn xuôi về Hội An để đổ ra cửa Đại.[2]

Sách Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên (người Trung Quốc), viết vào thế kỷ IV, khi đề cập vương quốc Lâm Ấp[3] đã gọi sông này là Hoài giang, từ đó mới khai sinh địa danh Hoài phố (tức Hội An) sau này, và người Tây phương chép thành Faifo. Vào thời kỳ Champa, do sông chảy qua đô thành Simhapura (tức thành Trà Kiệu) của tiểu quốc Amavarati nên sông có tên gọi là Kraun Simhapura. Trong Chiêm ngữ, Kraun là “sông”, Simhapura là “Đô thành Sư tử” nên Kraun Simhapura có nghĩa là “sông Đô thành Sư tử”. Danh xưng Kraun Simhapura được nhà khảo cổ người Pháp Louis Finot (1864 - 1935) phát hiện vào năm 1903 khi ông đọc một văn bia Chăm do vua Jaya Harivarman I cho dựng ở Mỹ Sơn.[4]

Thời Nguyễn (1802 - 1945), các sách dư địa chí nhà Nguyễn đều ghi tên sông Thu Bồn là Sài Thị giang (柴市江: sông Chợ Củi) hay Sài giang (柴江) do sông chảy qua Chợ Củi ở bến Câu Lâu, nơi có một khu chợ bán củi sầm uất nằm phía tây nam Dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm (nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).[5]

Tên Thu Bồn xuất hiện từ lúc nào, đến nay vẫn chưa rõ. Chỉ biết rằng, vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đậu thuyền trên sông này và viết bài thơ Thu Bồn dạ bạc (Đêm đậu thuyền bến Thu Bồn) lưu truyền cho hậu thế. Như vậy là tên Thu Bồn phải có trước thời điểm vua Lê Thánh Tông trên đường “bình Chiêm” đã dừng chân nơi đây vào năm 1471.

Trong suốt thời kỳ Lâm Ấp - Champa, hay như cách gọi của GS. Trần Quốc Vượng, là “thời kỳ trước Việt”, thì Thu Bồn chính là dòng sông Mẹ, là mạch nguồn tươi mát bồi đắp phù sa cho vùng châu thổ Quảng Nam; là nơi cung cấp sinh kế cho các cộng đồng cư dân bản địa sinh tụ ở đây: từ người Chăm ở vùng cận duyên cho đến các sắc dân thiểu số ở thượng nguồn xứ Quảng. Dòng sông, cùng với các chi - phụ lưu của nó đã tạo nên hệ thống thủy đạo kết nối miền biển, vùng hạ du và vùng cao xứ Quảng. Đây là mạng lưới giao thương cung cấp muối và các sản phẩm từ biển cho đồng bào miền ngược; thâu nhận lâm thổ sản từ vùng cao chở về đồng bằng duyên hải, tiếp nhận nông lâm sản, hàng thủ công ở hạ du, tập trung về Chiêm cảng để giao thương với thương nhân nước ngoài.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông: “Trước khi có dấu chân người Việt tiếp nhận chính thức vùng đất miền Trung, lịch sử đã bày ra ở đây một “bàn cờ” nhộn nhịp bằng các đầu mối giao thông và trao đổi hàng hóa ở những cửa sông, cảng biển. Là nơi nối miền núi với miền xuôi, nối mối quan hệ giữa các vương quốc Nam Ấn, vùng Địa Trung Hải, Đông Á, Đông Nam Á với các châu lục khác. Đó chính là yếu tố gợi mở, tạo nên bước chuyển đáng kể cho các chủ nhân người Việt kế thừa và hình thành những điểm nhấn quan trọng, xác lập những mối quan hệ trong hoạt động ngoại thương. Hội An (Kẻ Chiêm, Đại Chiêm hải khẩu) chính là sự tiếp nối làm nên sức sống mới cho xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn”.[6]

Khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) và sau đó kiêm quản cả xứ Quảng (1570), hợp thành vùng đất Thuận - Quảng, vùng đất phên dậu cực Nam của Đại Việt và là bàn đạp để các thế hệ kế tục ông mở cõi về phương Nam, thì xứ Quảng đã là nơi được lựa chọn để phát triển thành một “đặc khu kinh tế”, làm tiền đề để phát triển Đàng Trong thành một vương quốc hùng mạnh, đủ sức đương đầu với Đàng Ngoài.

Với phương châm “chúa ở phủ, thế tử ở dinh”, các chúa Nguyễn từ Nguyễn Phúc Nguyên đến Nguyễn Phúc Tần đã liên tiếp cử các thế tử (con trai trưởng của các chúa) vào trấn thủ ở xứ Quảng, cho lập dinh Quảng Nam như một đơn vị hành chính đặc biệt, áp dụng các chính sách cởi mở về thương mại (đặc biệt là ngoại thương), đồng thời tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, thúc đẩy các ngành nghề thủ công, tăng cường giao lưu buôn bán nội vùng… để phát triển kinh tế. Các chúa Nguyễn đã “kế thừa một cách khôn ngoan và sáng tạo bản quy hoạch theo đường sông Thu Bồn từ các Chiêm vương”[7], phục hưng Chiêm cảng xưa với tên gọi mới là Hội An, biến nơi đây thành một cửa ngỏ quan trọng bậc nhất để thông thương với bên ngoài.

Trong bối cảnh lịch sử mới, sông Thu Bồn vẫn giữ vai trò chủ đạo trong mạng lưới kinh tế nội vùng. Theo GS. Trần Quốc Vượng, “các thương thuyền bạn hàng cũ của Champa vốn quen thuộc với Chiêm cảng thì vẫn ghé qua lại nơi đây. Hải Phố - Hội An cùng với những bạn hàng mới (Nhật Bản, phương Tây) vừa tới cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây và Nhật Bản. Người Việt xứ Quảng trong những thế kỷ XVI - XVIII: vẫn tận dụng được những truyền thống của đồng quê Bắc Bộ và của người Chàm cổ về trồng dâu chăm tằm, ươm tơ, dệt lụa trên đôi bờ Thu Bồn mà có nguồn xuất khẩu lớn về tơ lụa; vẫn tận dụng và khơi sâu những nguồn lợi về rừng ở cả ba nguồn Thu Bồn, Vu Gia, Chiên Đàn mà xuất khẩu lâm thổ sản (gỗ quí, quế, trầm hương, mật ong...). Ba nguồn rừng, ba nguồn sông những mạch máu giao thông từ thẳm sâu cơ thể xứ Quảng phong nhiêu dồn tỏa ra biển Cửa Đại trong cùng một dòng sông Thu Bồn - Sài Thị đôi bờ ngàn dâu xanh ngắt một màu bộc lộ một nền kinh tế khỏe khoắn và vẫn còn giàu tiềm lực ở một miền đất rất cổ nhưng cũng rất mới mà lớp chủ nhân mới là những di dân cởi mở hơn trong tâm thức và thế ứng xử biết làm ruộng nhưng cũng biết buôn, biết bán”.[8]

3. Đóng vai trò chính trong sự hưng thịnh của xứ Quảng nói riêng, Đàng Trong nói chung trong thời kỳ này chính là thương cảng Hội An. Nơi đây là đầu mối kết nối thương mại quốc tế với thương mại nội vùng của xứ Đàng Trong. Theo đó, sông Thu Bồn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ nội địa đến thương cảng Hội An để xuất khẩu, và phân phối hàng hóa nhập khẩu qua thương cảng Hội An đến các vùng miền, từ hạ du đến thượng nguồn, thông qua mạng lưới thủy đạo gồm các sông: Thu Bồn, Trường Giang, Cổ Cò, Li Li, Vu Gia…

Nhờ vị trí đắc địa mà Hội An trở thành một giang - hải cảng (riverino - maritime port) bởi nơi đây là ngã tư đường thủy, hợp lưu của ba con sông, sông Thu Bồn, sông Cổ Cò và sông Trường Giang trước khi đổ ra cửa Đại Chiêm. Hải thuyền có trọng tải lớn, cũng như những chiếc ghe bầu chở hàng hóa nhỏ hơn đều dễ dàng cập bến. Hội An là một ngã tư quốc tế khi nằm trên giao lộ của hải trình từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại; hơn nữa Hội An còn là cái cửa mở lối vào nội địa cũng như từ nội địa ra đại dương.[9]

Theo những ghi chép của Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục, thuyền buôn nước ngoài đến Hội An mang theo các mặt hàng may mặc, vải, giấy, đồ đồng, đồ gỗ, sành sứ, đồ thờ cúng, tạp hóa, thực phẩm, dược phẩm. Trong đó, đồ sành sứ chiếm tỉ lệ 4,64%, đứng hàng thứ tư trong số các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhập khẩu vào Hội An.[10] Về hàng xuất khẩu, Hội An xuất ra nước ngoài các mặt hàng: gỗ, đặc sản quý hiếm (như sừng tê, ngà voi, trầm hương, yến sào), hải sản, kim loại, nông sản thực phẩm, hàng thủ công, dược phẩm.[11]

Theo GS. Charles Wheeler, một trong những học giả tiên phong của chủ thuyết riverine exchange network (mạng lưới trao đổi ven sông), thì cảng Hội An là một điểm sáng về mậu dịch khu vực, trong mối quan hệ hội nhập một cách thuần thục và quan trọng, đối với con đường hàng hải liên quốc gia. Đây là cảng biển cực thịnh trong suốt các thế kỷ XVII - XVIII, được dùng như một điểm xuất nhập khẩu với những chuyến tàu phục vụ cho mậu dịch hàng hải ở châu Á. Có được sự phồn thịnh trên là nhờ những chiếc thuyền vận chuyển trong thủy lộ ven biển, nối kết các cửa sông lại với nhau, thông thương với các sông ngòi trong nội địa ở xứ Quảng để mở rộng hoạt động giao thương, tìm nguồn hàng phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu cũng như tái phân phối hàng hóa nhập khẩu vào Đàng Trong.[12]

Thế kỷ XVII - XVIII là thời đại Đại thương mại (Grand Commerce Age), bước khởi nguyên của chủ nghĩa tư bản hiện đại, Hội An may mắn nằm trên tuyến đường buôn bán tơ lụa, gốm sứ và hương liệu tấp nập nhất thế giới nên đã từng đưa đón bao chuyến thương thuyền của người Tây phương, người Nhật và Trung Hoa ghé qua. Các đời chúa Nguyễn đều nhận thức rõ điều đó nên chỉ cần có thêm một chính sách ngoại thương thông thoáng thì Hội An trở thành bầu sữa nuôi sống cả vương triều Đàng Trong. Đó là lý do tại sao Hội An trở thành một thương cảng sầm uất không chỉ ở Đại Việt mà cả vùng Đông Nam Á trong hơn hai thế kỷ XVII và XVIII.[13]

Có thể nói rằng, với dòng sông Thu Bồn làm trục giao thương chính, Trà Kiệu và Hội An là hai trọng địa chính trị - kinh tế trên trục giao thương ấy trong các thời kỳ Lâm Ấp - Champa và thời chúa Nguyễn, xứ Quảng và rộng hơn là miền Trung và Đàng Trong đã có một nền kinh tế phát triển, trong đó thương nghiệp đóng vai trò xương sống của nền kinh tế.

Đặc biệt, kể từ khi các chúa Nguyễn vào tiếp quản vùng đất cũ của người Chăm, lập nên vương quốc Đàng Trong tự cường, tự chủ, tách bạch với Đàng Ngoài thì mạng lưới kinh tế dựa trên trục giao thương Thu Bồn - Trà Kiệu - Hội An càng giữ một vai trò quan trọng, tác động đến sự hưng thịnh của cả vương quốc Đàng Trong.

Hay như nhận xét của Li Tana trong bản luận án tiến sĩ xuất sắc, viết về lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam vào các thế kỷ XVII - XVII, rằng: “Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn bảo đảm rằng, chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam, chỉ trong vòng ít thập niên, trở nên giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía bắc và mở rộng về phía nam. Không có thương mại, Đàng Trong khó có thể tồn tại nổi cho dù tài nguyên thiên nhiên có dồi dào, vì những khó khăn mà vương quốc này phải đương đầu. Thiếu nhân lực, thiếu tiền của, không có sẵn quan hệ với bên ngoài và nhiều khó khăn khác, nhất là khi phải xây dựng trên một vùng đất mới giành được từ một dân tộc khác, có một nền văn hóa khác. Ngoại thương trở thành yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong. Ngoài thương nghiệp không có gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực để có thể đương đầu nổi với một vùng đất có nhiều tiềm lực gấp đôi, gấp ba Đàng Trong về mọi mặt. Đối với các nước khác ở Đông Nam Á, vấn đề ngoại thương chỉ là vấn đề làm giàu, nhưng đối với Đàng Trong vào buổi đầu, đây là vấn đề sống chết”.[14]

Đó cũng chính là sự đóng góp của xứ Quảng vào vận mệnh của Đàng Trong, của Việt Nam trong lịch sử vậy.

T.Đ.A.S.

Bài in trên XUÂN DUY XUYÊN 2021 (tr. 41 - 45).
-----------
Chú thích:

[1] Linh mục An-Tôn Nguyễn Trường Thăng (Sưu tầm và biên soạn), Lưu dấu Champa Cố đô Simhapura - Trà Kiệu thế kỷ I đến thế kỷ XI, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017, tr. 80.

[2], [5], [7], [9], [13] Đinh Bá Truyền, Sông Thu Bồn, https://www.facebook.com/truyen.dinhba/posts/1297567306926592

[3] Lâm Ấp (林邑) là một vương quốc đã tồn tại từ khoảng năm 192 đến năm 605, tại vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam hiện nay. Vương quốc này được coi là tiền thân của vương quốc Champa sau này.

[4] Louis Finot, “Notes d’épigraphie: XI. Les inscriptions de Mĩ-Sơn”, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1904, Volume 4, Numéro 1, p. 915. Dẫn theo: Đinh Bá Truyền, Bài đã dẫn.

[6] Nguyễn Hữu Thông, “Biển trong lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn của Charles Wheeler (Dẫn liệu từ vùng Thuận Quảng)”, Nghiên cứu Lịch sử, Số 10.2011, tr. 36.

[8] Trần Quốc Vượng, “Chiêm cảng Hội An với cái nhìn về biển của người Chàm và người Việt”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học về Khu phố cổ Hội An (23 - 24.7.1985). Dẫn lại từ: https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/Chiem-cang-Hoi-An-voi-cai-nhin-ve-bien-cua-nguoi-Cham-va-nguoi-Viet-407.html

[10], [11] Lê Quý Đôn, Toàn tập, tập 1 (Phủ biên tạp lục), Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr. 357-358.

[12] C. Wheeler, “Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Intergration of Thuan Quang, Seventeenth-Eighteenth Centuries”, Journal of Southeast Asia Studies, 37.1 (Feb, 2006), pp. 123-154.

[14] Li Tana, Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18, Nxb Trẻ, TPHCM, 1999, tr. 85.

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

Hòa Văn: THẤT THANH...





Không gì vui bằng ngồi bên em

Không gì không gì... lo bằng ngồi đón bão
Sự ve vuốt mơn trớn
Khắp mọi miền da thịt tôi
Lên gai gốc kinh khủng
Em hiền như bài hát ru điệu buồn gió thốc
Ngược lên trái tim vụng dại lỡ yêu người hơn cơn lốc
Bão có thể tàn phá một miền trong nháy mắt
Em níu cả đời không buông!

*

Đêm giằng giật gió bão
Hung hãn tận cùng thất thanh
Vòng xoáy cuốn hút
Lạnh lùng vô cùng
Con người nhỏ hơn cây sậy!
Ngó về đâu cũng buồn!.

Hòa Văn
Đêm đón bão 13 (Vamco)
          14.11.2020
-----
Ảnh internet

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Hòa Văn: RỪNG... RƯNG RƯNG

  

       HỒI mới hòa bình về lại quê, Tri có một thời cùng anh em thanh niên trong xã đi nông trường Quyết Thắng trồng chè nên gọi Tri chè, để phân biệt với Tri ở cuối xóm – tới giờ trên năm lăm tuổi rồi mọi người vẫn gọi thế. 

      Lâu quá tôi mới có dịp ghé lại nhà thăm và rủ nhau đi lên đồi núi chơi. Ông Tin cha của Tri chè, người trông hơi mệt nhưng vui lắm vì trước đây khi chưa đi Sài Gòn, tôi thân với gia đình và cùng Tri đi trầm. Ông Tin tuổi đã trên tám mươi, da dẻ hồng hào, người cứng cáp sắc thái đĩnh đạc. Tôi khen “Tri ở vậy nuôi ông già, chắc ghê!” Hình như câu lỡ lời của tôi chạm vào nỗi niềm thầm kín của ông, khi đứa con trai độc nhất ở tuổi “tri thiên mệnh” rồi mà chẳng chịu lập gia đình, khiến ông Tin buồn thiu quay mặt vào vách tường khúc khắc ho. 

Tôi đánh trống lảng: “Như Tri mà được, chứ kiểu thằng Vương có vợ bằng không!” Ông Tin nói: “Kể chi vợ con thằng nớ!”. 

Tri chè cười cười rồi giục tôi đi kẻo trễ. Nhìn những quả đồi trơ trụi, tôi bần thần như người mất hồn, không tin nỗi cớ sự đến như thế nầy!. Nơi mà chỉ cách đây hai mươi mấy năm rừng có rất nhiều loại gỗ quí hiếm, cây lá bạt ngàn, đi cả ngày không thấy vạt nắng nào rộng hơn cái nong phơi lúa. 

 Tri nói: “Mấy hôm nay trời mưa không khí dịu bớt, chứ nếu không chừ oi bức nắng rát da không chụi nỗi đâu!!”. 

 Đâu rồi tiếng chim hót véo von, tiếng nước suối róc rách chảy! Dạo ấy tôi rất thích vườn chim cu gáy ở nơi đây. Không rõ chúng tụ tập lại làm tổ từ bao giờ, mà sinh nở ra rất đông đúc. Khi chứng kiến cảnh chim mẹ đút mồi cho con ăn mới thấy hết tình “mẫu tử” của loài vật đâu kém con người?. Mỗi lần nghe tăm hơi chim mẹ vỗ cánh bay về, chim non nằm trong ổ nôn nả há mỏ to hết cỡ để chim mẹ mớm mồi. Mọi sự việc bình thản đáng yêu quá! Được cái không ai phá phách tổ hay bắt chim nhờ thế đàn chim chẳng có chút gì sợ sệt con người. Thế mà giờ… Tri kéo tôi đi…  

                                      ***

        Hương trời đất theo gió bám vào nơi trầy xướt trên thân cây dó bầu, lâu ngày biến thành trầm hương. Đó là theo tương truyền dân gian còn khoa học xác định khi cây dó bị thương tích, chất dầu trong cây tụ lại đề kháng bệnh, dần dần chuyển hóa thành trầm. Kinh nghiệm những cây dó có trầm thân cành thường xơ xác.

 Những chuyến đi tìm trầm hương kéo dài. Có một đêm đang ngủ say, tôi bổng thấy tất cả rừng bị huỷ diệt. Không như chuyện cổ tích Công chúa ngủ trong rừng, từng nghe cậu Tám kể hồi còn học lớp 4 trường làng, với bao hình ảnh tươi đẹp của quê hương, nào là có bà tiên Hiền, cô tiên Lành, trìu mến yêu thương trẻ thơ, khuyên nhủ mọi người hãy giữ gìn môi trường sinh thái tự nhiên và lúc nào cô Tiên cũng tặng cho tuổi thơ những điều ước tốt đẹp. 

 Trong cơn ác mộng tôi thấy bọn quỷ dạ xoa đang tâm đốt cả đại ngàn. Lửa ngùn ngụt bốc cháy, cháy, cháy… Muông thú chạy tán loạn… Cây cối to nhỏ quằn quại đau đớn trong lửa đỏ. Bầu trời mù mịt khói và tro bụi. Từng đàn, từng đàn chim chơi vơi bay, bay… Không biết chúng chạy và bay về đâu?. Bị mắc kẹt bịt bùng trong đám lửa khói cháy, tôi hoảng hốt, miệng ú ớ liên hồi... chân cố hết sức chạy thoát, nhưng chẳng được… cả người như đang bị một vật gì đó quá nặng đè bẹp xuống đất... 

Bỗng bà Tiên Hiền xuất hiện nắm tay tôi kéo bay vút đi lên không trung. 


                                *** 

 

        Mới đó đã qua trên hai mươi mấy năm. Giờ không chỉ là giấc mơ, mọi việc đang xảy ra rành rành... Rừng… rưng rưng. 

       Tri chè vẫn y nguyên hồi xưa, suốt một buổi tâm sự chuyện cũ chuyện mới rôm rả, mặc cho ai nói gì thì nói anh chỉ ngồi cười cười, nụ cười giống hệt nụ cười của các bà mẹ vùng trung du nầy, rất hiền và ẩn chứa mạch sống mãnh liệt của núi rừng thuở nào!. Nhiều người tỏ ý lo ngại trước sức tàn phá không nương tay của con người, núi rừng sông suối ngày một hoang tàn, môi trường bị huỷ hoại…

        Tri chè cũng chỉ cười cười nói: “Biết làm răng chừ!”./. 

        Hòa Văn

        (4/2012)

-----

Ảnh: Internet

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2020

Hòa Văn: CÒN GÌ KHÔNG?


 Còn gì không? (*)
Bên dưới lớp đất đá nầy bao sinh linh nghẹt thở 
Xin nguyện cầu Đấng Thiêng Liêng độ trì 
Chỉ cần một hốc đá chỉ còn hở chút là còn hơi thở 
Chỉ cần chỉ cần... than ôi! 

 Lúc này xin đừng phí phạm lượng oxy... 
Bao sinh linh là bà con ta đang rất cần cần một chút thôi! 
Nhanh tay lên đôi bàn tay đang bới đất đá... 
Bên dưới những bàn tay là sự sống đang lụi dần... 
 
Không thể kêu cứu!
 Quanh là đất và đá! 
Sự vùi lấp kinh hoàng 
Như tia chớp
 Thảm thương thay!.
 ... 

***

Không còn lời để nói 
Không còn điều gì để nói tất cả đang ở sâu trong lòng đất đá 
Xóm tan hoang 
Nhà tan hoang 
Chưa bao giờ cơn địa chấn ập xuống miền núi quê tôi khốc liệt như thế! 
Có nhà 8 người chết hết chỉ còn một là nhờ không có ở nhà!
 ... 
 Cả nhà chết hết! 
Tin nhói trái tim... 
... 
 Ôi! Tiếng thét giữa rừng
 Âm vang âm vang tứ bề 
 Ôi! Tiếng khóc giữa rừng 
Âm vang âm vang tứ hướng 
Nỗi đau tận cùng đứt ruột 
Mà làm sao giờ em ơi! 
Đôi mắt chứa bao niềm uất ức! 
Em nhìn lên khoảng trời  
Có thấy gì đâu 
 Ngoài hư không... 
 Không trống không kèn
 Không hòm không quách 
Chỉ mấy gói mì tôm bẻ đôi
 Đặt trên mộ mẹ mộ cha ngay bên nơi vừa bị đất đá vùi lấp 
Một ngày mùa đông
 Không giặc không đạn Ầm ầm thác lũ Ông bà mẹ cha anh em con cháu chết trong nháy mắt! 
 Chết không kịp ngáp 
Không lời thở than 
Không không ... 
Không biết tại sao phải chết 
Vì tiền? 
Vì tình? 
Vì... 
Có trời chứng tri 
Tội lỗi này ai mang 
Không biết 
Vô tri 
Vô thức 
Vô giác 
Vô lối 
Vô luân 
Vô đạo! 

 Không thể chọn nơi sinh 
Con người có quyền chọn nơi ở? 
Hởi ôi! Bên bờ suối bên sườn đồi bên nương rẫy... 
Thi vị quá thi vị 
Thật thà rất thật thà 
Chỉ cần con nhái 
Chỉ cần củ sắn lùi 
Chỉ cần vốc nước lạnh 
Đủ rồi một kiếp nhân sinh 
Đã từng thấy như thế...
 Đã từng như thế! ...
Người ở miền núi có đôi mắt như thôi miên 
 Đôi mắt muốn nói bao điều yêu thương 
 Lại là đôi mắt buồn thấu tâm can 
Mọi thứ sẽ chìm vào quên lãng? 
Nỗi đau còn lại!.


***

Không còn gì!
Câu trả lời
Lạnh lùng
Hiu quạnh
Bơ vơ
Tới cái xoong nhôm còn xẹp lép
Thử hỏi thân xác con người nào chịu nổi
Không còn gì
Ngoài sự lặng câm của đất và đá
Sự im lặng đúng là quá đáng sợ
Ở nơi núi không ra núi đồi chẳng ra đồi sự sống tính bằng giây là bình thường
Bình thường đáng sợ
Sức chịu đựng của con người thật vô cùng
Ơi!
Vô cùng
Vô tận
Chỉ có lương tâm mới cứu được sự thật kinh khủng đang diễn ra
Chỉ có lương tri mới cứu được sự tàn lụi của con người
Lương tâm
Lương tri ơi!.


🔊

-----
(*): Sạt lở núi ở Quảng Nam
Thông tin ban đầu cho biết, trận mưa lớn kéo dài kèm hoàn lưu bão số 9 đã xảy ra liên tục từ 4h đến 19h hôm qua (28.10) đã gây sạt lở nhiều nơi. Tại thôn 6, xã Phước Lộc đã xảy ra sạt núi, vùi lấp 11 người dân mất tích. Do đường bị sạt lở, chia cắt giao thông hoàn toàn, thông tin liên lạc bị gián đoạn nên sáng nay, cán bộ cơ sở mới cắt đường, vượt núi, đi bộ ra đến huyện để cấp báo. 
 Ảnh Người dân nỗ lực tìm kiếm người mất tích. 
 Hiện người dân tại thôn 6 đã tìm được 3 thi thể. Cán bộ xã Phước Lộc và huyện Phước Sơn đang tổ chức lực lượng tiếp cận hiện trường. Dự kiến, 16h hôm nay, lực lượng xã mới tiếp cận được vụ sạt lở. 
 Được biết, khu vực sạt lở thôn 3, xã Phước Lộc có 32 hộ với 215 nhân khẩu. Vụ sạt lở còn khiến nhà cửa, tài sản của người dân bị hư hỏng. Trước đó, 2 cán bộ xã Phước Lộc gồm Hồ Văn Sợ, 25 tuổi, cán bộ dân vận, Hồ Văn Độ, 28, phó Bí thư xã đoàn cùng 3 cán bộ khác đến các thôn kiểm tra, hỗ trợ dân sơ tán. Trên đường đi, 2 cán bộ nêu trên bị sụt đất, rơi xuống suối, bị cuốn trôi. Như vậy, riêng xã Phước Lộc hiện có đến 13 người mất tích.
(*): Vụ sạt lở đất ngày 28/10 xảy ra tại thôn 1 (xã Trà Leng, Nam Trà My, Quảng Nam) vùi lấp 15 hộ dân, 33 người may mắn sống sót, 9 thi thể được tìm thấy, 13 người hiện (4/11/20) vẫn còn mất tích, trong đó có Bí thư xã Trà Leng.
 
(*): Thông tin từ Ban Chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh Quảng Nam, trong đợt mưa bão số 9, tại khu vực các huyện miền núi của tỉnh có 22 người chết, 46 người bị thương và 24 người đang còn mất tích do sạt lở đất, nước cuốn trôi. Trong đó, tại thôn 1, xã Trà Leng (huyện Nam Trà My) còn 14 người và xã Phước Lộc (huyện Phước Sơn) còn tám người đang mất tích...


Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

Hòa Văn: BÃO VỚI QUÊ




Quê mình sắp bão tới em ơi! 

Cả dải đất vừa qua trận lũ 

Giờ gió to bão lớn sao trời!

 ...  


Dẫu bao đời trần tình nỗi khó 

Dẫu bao phen hứng chịu nhọc nhằn 

64 Giáp Thìn còn nhớ như in 

Bão lũ trôi một làng sóng cả!

  

Ơi! quê mình Quảng Nam vất vả 

Áo với cơm và lẫn tai ương 

Thiên nhân tai ngày càng bất thường 

Mang đến thêm càng nhiều tổn thất! 


Biết là thế! quê mình rất thật...! 

Mong cùng nhau đồng lòng dốc sức 

Tay nắm tay Quảng Nam vượt qua... 

Lụt bão nào khuất phục được ta! 


 Đất và Người Xứ Quảng yêu thương! 

Mỗi tin bão tim người thắt lại 

Nghe bão tan khắp nơi mừng vui 

Ơi! anh biết lòng em mong ước 

Quê hương mình ngày một sáng tươi!.


Hòa Văn 

10h 30 11/10/20 

P/s: Viết xong nhận tin cuối cùng bão số 6 đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới. Tin vui khắp mọi nhà!.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

Hòa Văn: Nghề mua bán lá chuối sứ 

 


      Ngày xưa lá chuối sứ chỉ xử dụng mỗi năm nhiều nhất vào ngày mồng 5 ngày tết Nguyên đán mà nhà nào ở quê cũng có dăm ba bụi chuối này nên đa phần nhà ai nấy dùng có khi cho nhà trong xóm cùng dùng để gói bánh tét, bánh rò, bánh chưng, nem chả, bánh ú tro... 
     Bây giờ khác rồi! Cây chuối sứ ngoài cho búp, trái làm rau ăn với nhiều món như thịt bò thui, thịt gà, mì Quảng.... cây chuối sứ còn cho vài ba tháng một đợt lá. Lá chuối ở quê thông qua các người chuyên đi mua bán lại cho các đầu mối các chợ rồi được chuyển đi đến nơi chuyên gói các loại bánh và cả thay bao bì nilon gói hàng thực phẩm... Đã có cầu nên có cung, nhiều nhà ở quê nay trồng thêm chuối sứ. Mỗi khu vực có vài ba người chuyên đi mua lá chuối, có khi cả vợ liền chồng cùng làm nghề này. Giá mua tùy theo vụ như tết, lễ,... giá nhích lên còn bình thường cứ tính gốc chuối và độ tốt xấu của lá chuối mà ước lượng mua bán, thường thường mua hóa như vậy mới có lời. Sau khi thỏa thuận giá cả xong người mua dùng cây sào có cột cái dằng làm dụng cụ giựt lá chuối, giựt xong vườn nhà nào thì gom đống lại rồi rọc lá xếp cuộn cột từng xấp từng bó gọn gàng. 
     Mỗi bữa mua năm ba nhà như vậy đến chạng vạng chở về nhà sáng mai chở đi bán chiều tiếp tục đi mua... Mua hóa giá nhưng bán theo ký mà giá lá chuối cũng khá ổn định đồng thời hiện ngoài gói bánh truyền thống, thực hiện bảo vệ môi trường lá chuối còn được nhiều nơi xử dụng thay cho bao túi nilon gói hàng nên nghề mua bán lá chuối đắt hơn giúp cho nhiều người ở quê cải thiện cuộc sống. 

Hòa Văn

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

N g u y ễ n H à n C h u n g : M Ù I T HƠ


 

Lúc chuẩn bị định cư nước ngoài

 tôi đem mấy trăm bài thơ của các tác giả thời danh được in trên báo

 ra chợ bán 

cô chủ sạp nói cháu chỉ mua giấy tính bằng ký 

còn thơ có ai đọc đâu cháu mua làm gì 

và cô giải thích thêm 

xưởng in sẽ nhào nặn tẩy sạch rồi tái chế giấy báo có in thơ thành giấy mới cho con trẻ sáng tạo những bài thơ về cuộc sống mới

 con người mới 

hồn nhiên trong sáng 


*


 Mấy mươi năm sau

 khúc ruột ngàn dặm quy cố hương

 lại ra chợ cũ nơi bán giấy gói thơ ngày xưa 

mua một ít giấy báo có in thơ về gói xôi

 vẫn là một cô bé giống hệt cái miệng liến thoắng của cô bé mẹ ngày trước 

cô nhỏ nói cháu chỉ tính ký tiền bán giấy báo thôi 

và tặng không những bài thơ 

 tôi thấy giấy báo bây giờ có trắng hơn 

và điều tôi cảm thấy vui nhất

 là khi ngửi thơ in trên báo và tạp chí văn chương 

ít nhiều có bớt mùi thum thủm cũ… 

 Eldridge Park Sep.2.2019

N.H.C

-----

Ảnh Internet chỉ minh họa.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Hòa Văn: CẢ QUÊ HƯƠNG VÀO TRẬN




549 năm ông cha mở cõi 
 bảo tồn quê kiểng 
Đây là năm 
 là tháng 
 là giờ 
 cháu con xin nguyện
 kết đoàn chung tay 
 ngăn giặc covi... 

Có thể có đau thương 
có thể có... điều 
không bao giờ dám nghĩ đến
Có thể
 dù có thể 
 như thế nào 
Quê Hương vẫn sáng ngời 
lòng yêu nhau 
vượt qua đại dịch


 14 ngày phong tỏa
 14 ngày đêm 
 nội bất xuất 
 không để covi... phát tán 

Hãy gìn giữ 
 Quê Hương 
vẹn toàn Bình An!.

 H.V 

 Khuya 2/8/2020 00h 3/8/2020 phong tỏa Nam Hà (Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam). Đang sống trong vòng đại dịch Covid - 19.