Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Hòa Văn: CẢ QUÊ HƯƠNG VÀO TRẬN




549 năm ông cha mở cõi 
 bảo tồn quê kiểng 
Đây là năm 
 là tháng 
 là giờ 
 cháu con xin nguyện
 kết đoàn chung tay 
 ngăn giặc covi... 

Có thể có đau thương 
có thể có... điều 
không bao giờ dám nghĩ đến
Có thể
 dù có thể 
 như thế nào 
Quê Hương vẫn sáng ngời 
lòng yêu nhau 
vượt qua đại dịch


 14 ngày phong tỏa
 14 ngày đêm 
 nội bất xuất 
 không để covi... phát tán 

Hãy gìn giữ 
 Quê Hương 
vẹn toàn Bình An!.

 H.V 

 Khuya 2/8/2020 00h 3/8/2020 phong tỏa Nam Hà (Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam). Đang sống trong vòng đại dịch Covid - 19.

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2020

Hòa Văn: THỞ


Thở là sống 
Không thở trong nhiều giờ là sao! 
Câu hỏi xoáy vào tôi
Như lời ru của đất và của trái tim 
Chắc chắn không có sinh thực vật nào miên viễn 
Chắc chắn không có đó là điều chắc chắn
Thế mà... thế mà... 
Có sinh động vật nào từ chối sự sống 
Mọi sự khép lại dẫu gì cũng hay hơn 
Hay hơn... 
Nếu sống như không sống! 

.


Biết bao nhầm tưởng
Và tự nhiên tồn tại 
Biết bao cuồng mê 
Và tự huyễn hoặc 
Để không là con người đích thực 
Dễ 
Để là con người 
Không 
Dễ! 





Khi nhành cây khô trôi theo dòng lũ thời gian 
Khi sinh linh cúi mặt trước lời dối trá có cánh 
Trời còn tối đất chưa lún
Kẻ hãnh tiến trên khổ đau
Sung túc trong luẩn quẩn... 
Sự thở ngột ngạt
Nhân phẩm trò đùa!
Nhân cách đang giỡn!
...





Chiếc mặt nạ vênh váo 
Áo xống 
Khăn đai 
Diễn tuồng nhân bản chưa hạ màn !!! 
Lương tâm chìm đắm
Dã tâm nổi lên 
Đó chỉ hiện tượng
Sự thiệt bất diệt 
Như hơi thở 
Đang thở...

 Hòa Văn
Tam Kỳ, 22/7/2020


Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2020

Hòa Văn: BUDDHA

Buddha
Buddha bị đưa ra quán bar
nhấp nháy đèn mờ tỏ
chứ không phải ánh hào quang
soi rọi tim người phật tử
dẫn đắt chúng sanh buông bỏ muội mê trở về bờ giác
Thời Buddha đem ra làm tấm thẻ bài
cho bọn tham sân si buôn bán giàu to
miệng lâm râm nam mô bụng không chỉ con dao mà là dịch
chúng bôi trét bằng mồm và mũi
chúng lây chéo
chúng lôi kéo
12345 n
từng giây...

Buddha! Buddha!
Hồi hiện thị biết trong bát nước lã có hàng vạn chúng sanh
giờ không còn vạn mà là n chúng sanh
vẫy vùng trong hố đen mê muội!.
H.V
-----
Ảnh internet

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

Hòa Văn: KHÔNG HIỂU

 Không hiểu con vi vuhan* màu trắng đen hay vàng đốm** có điều nó tụt hết được mọi sự ỡm ờ lâu nay im lìm trong khe nước lã đó là sự thật cần soi rọi lương tâm đó là thước đo lòng nhân ái lâu nay phù phiếm sắp hàng chờ lên ngôi của bờ giác

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020


Theo “Ô châu cận lục” của Dương Văn An, làng Đông Bàn khai cơ lập nghiệp sớm trong 66 xã hiệu thuộc phủ Điện Bàn cũ (Triệu Phong, Thuận Hoá).
Chuyện xưa kể rằng, lúc bấy giờ nơi đây (Gò Nổi) dân cư thưa thớt, đất trời hoang sơ, núi rừng hiểm trở, các loài thú dữ, chim muông rình rập bao quanh. Tuy nhiên, đất đai màu mỡ, khai khẩn đến đâu gieo trồng đến đó hoa lợi tốt tươi mang lại lương thực, thực phẩm dồi dào. Hằng năm lũ lụt bồi đắp phù sa nên mùa màng thêm bội thu. Nguồn nước sinh hoạt có sông Thu Bồn, ngòi Đông Bàn nên không cần giếng khơi. Song, có một điều sau hàng trăm năm dân làng vào đây lập làng kể từ ngày vua Lê Thánh Tông bình Chiêm thắng lợi (Hồng Đức nhị niên 1471) nhưng dân cư làng Đông Bàn không phát triển mấy, lòng người không yên, có người định bỏ đi tìm vùng đất mới. Lũ lụt mỗi năm mỗi to và dữ dằn hơn như muốn cuốn phăng tất cả... Nước ngập xóm Nam Dương, Tây Hà, nước cuồn cuộn chảy xiết ngập xóm Tây Xuyên, Bắc Tân, Đông Hà, Hòa Bình, đến gần cuối làng, con nước xoáy mạnh xói lở nhiều năm thành bàu rộng đến trên ba mẫu đất (nay còn gọi cánh đồng bàu Lở). Dân làng bàn tính phương cách chống chọi lại với thiên tai, có người ý kiến tốt nhất nên dời khu dân cư ra xa nơi lũ xoáy để tránh tai hoạ. Bàn tới tính lui chưa có kế sách nào khả thi thì vào một đêm các cụ cao niên trong làng ngủ mơ thấy có một vị trưởng lão người quắc thước, râu tóc bạc phơ mách bảo: Dân làng hãy đào ở ngay rốn của vùng nước xoáy ấy một giếng nước mang hình trời đất vừa để lấy nước sinh hoạt, vừa khiến lũ sẽ không xoáy không gây xói lở nữa, đồng thời làng xóm sẽ hanh thông nhiều mặt!.

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

Thơ Hoàng Lộc: GỞI BẠN VÀ EM


bè bạn hỡi đừng bỏ ta đi nữa
tuổi càng cao hiu quạnh quá chừng chừng những bạn học bạn văn bạn lính
nhớ từng thằng con mắt cứ rưng rưng

em cũng thế đừng bỏ ta vất vưởng
xứ người ta cũng lắm bến sông buồn
nửa vầng trăng đã nép mình sau núi
nửa vầng còn, soi được bóng em không?

ta cứ phải chiều chiều ngồi nhớ bạn
rượu còn đầy, không uống, chịu môi khô
vẫn gắng sức nấng nuôi tình trễ muộn
viết câu thơ quá lắm những mơ hồ

bè bạn hỡi chờ đi chung một lượt
đừng hao thêm nữa đó, ráng vì nhau
em cũng ráng vì ta thêm ít bữa
cùng che cơn gió lạnh thổi bên cầu.

16-2-2020
 HOÀNG LỘC

Truyện ngắn Hòa Văn: NỖI NHỚ




Mẹ nói những chuyện về đứa con trai của mẹ là có thật. Tôi lặng lẽ ghi chép tất cả không có một lời bình luận hoặc thêm thắt nào.
Ngày 17 tháng 02 năm 1979(1)
Mẹ kính yêu!
Con đã đặt chân lên mảnh đất...  – Mảnh đất mà lúc nầy theo như chỉ huy bảo là của “địch” mẹ ạ!.
Đồi núi nhấp nhô, bình yên, đầy hoa sim tím... Phía bên kia dãy núi có nhiều ngôi nhà, trong đó chắc chắn có trẻ thơ và người già. Giờ G sẽ phát lệnh tiến công, C của con đánh mũi trực diện. Qua điều nghiên của các trinh sát phía ấy không có đồn bót cũng chẳng có binh sĩ chỉ có đâu mười dân quân trang bị rất sơ sài thế mà con là quân chủ lực nên mẹ đừng lo gì!.

...
Con của mẹ
Lý...

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2019

Đặng Tiến: CON CHUỘT NĂM TÝ


 Năm nảo năm nao, năm nào cũng vậy, ngày hết Tết đến, viết bài Tết, ký ức lại xôn xao nhiều hình ảnh quê xưa, nao nao vần điệu ca dao. Năm Tý, nhớ câu : Chuột kêu rúc rích trong rương Anh đi nhè nhẹ, đụng giường má hay. 
Ngày nay, nhất là ở thành phố, thấy chuột chạy, nghe chuột kêu, sẽ có người hoảng hốt. Nhưng xưa kia, việc ấy bình thường, thậm chí câu lục bát nói trên, còn là một âm vang của hạnh phúc. Nó chứng tỏ trong nhà có cái ăn. Tiếng rúc rích canh khuya gợi lên khoảng thời gian thanh lắng, và không gian êm ả. Trong khí hậu yên lành đó có tiếng chân người, kín đáo, kiêng dè: hạnh phúc đang đi dần, đi dần lại, cùng bóng đêm đồng lõa.
Chúng ta tưởng tượng đôi vợ chồng mới cưới, về thăm cha mẹ, có lẽ là cha mẹ vợ, vào một dịp giỗ tết. Cứ tưởng tượng tối mồng hai Tết: mồng một lễ cha, mồng hai lễ mẹ, mồng ba lễ thầy. Vợ chồng đã cưới hỏi, nhưng khi về nhà cha mẹ, vẫn phải giữ kẽ nằm riêng.
Tại sao lại sợ « má hay », mà không sợ cha, sợ tía ? Có lẽ là thời ấy, đàn ông ngủ nhà trên, phụ nữ ngủ nhà dưới. Xưa. Hạnh phúc ngày xưa : dè dặt mà đằm thắm sâu xa, không như cái vồ vập, thường dễ phôi pha ngày nay. Tình huống đêm hôm khuya khoắt này ắt là hư cấu, hoặc ít xảy ra. Nhưng tình cảm là thật và lễ nghi là thường. Lời người con gái – tôi dùng từ sai – nói ra lúc nào ? Phải chăng chỉ là giấc mơ hạnh phúc, thậm chí là hoang tưởng của người phụ nữ, đặt trên tình yêu, đồng cảm và lễ nghĩa, và trong chừng mực của kinh tế. Hạnh phúc trong không gian âm phái : người vợ, người mẹ, canh khuya, cái giường. Phải đặt tiếng chuột rúc rích trong không gian đó, chứng nhân, đồng lõa, rúc rúc chúc phúc. Một câu ca dao ngắn, ôi sao mà súc tích ! Tiếng chuột biểu hiện hạnh phúc, không phải tôi suy ra để tán tụng câu ca dao, mà do Tô Hoài kể lại, trong truyện O chuột, 1941, một thành công đầu tay của anh : «Người ta chỉ ưa cái tiếng kêu « chuúc… chuuúc.. ». Các cụ ta nói: ấy chuột chù bảo : « túc, túc » « đủ đủ ». Nhà ai mà chuột chù cứ túc túc luôn, ắt nhà ấy hẳn sắp có việc đại phát tài ».
 Nửa thế kỷ sau, Tô Hoài nhắc lại ý cũ, và đế thêm vào câu ca dao minh họa : Thứ nhất đom đóm vào nhà, Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn. Lại Chuyện chuột, trong Chuyện Cũ Hà Nội, ấn bản 2000, là một đoản văn hay, đầy đủ về loài chuột.
Tác giả giải thích :
 « Tôi viết bài lại kể về chuột này bởi xưa nay tôi có cơ duyên với chuột, đã viết nhiều về chuột. Những truyện ngắn O chuột, Chuyện gã Chuột bạch, Chuột đồng chuột nhà, và những Chuột thành phố, Đám cưới chuột… Tôi kiếm cơm nhờ chuột, vậy mà tôi vẫn chén thịt chuột… » Trong các tác phẩm được nhắc lại, đặc sắc nhất là Chuyện gã chuột bạch, tinh vi và tinh quái, ý vị và thi vị : « Cả hai vợ chồng cùng ưa đêm tối. Bởi ban ngày họ thường ngủ. Bốn cái chân trước sát vào nhau ; bốn con mắt cùng khép. Chiều đến đã đem bóng về dần dà trong cửa sổ, Bấy giờ vợ chồng chuột mới bừng mắt. Họ ngơ ngác nhìn hoàng hôn. Gã chuột đực mò mẫm tìm cái đĩa đựng gạo. Chị vợ cũng nhẹ nhàng đi theo. Họ gậm nhấm mấy hạt. Những tiếng răng nghiến trên hạt gạo, nghe ken két, sàn sạt như tiếng một con mọt cựa mình trong thớ gỗ ».
 Không biết trong văn học thế giới, có nhiều những âm hao tinh tế như vậy chăng? Một hôm chuột vợ ngoạm được miếng mồi to, nuốt trửng một chú bọ ngựa : « Một mạng lớn, giết đi một mạng nhỏ, êm nhẹ như hơi chiều lặng lờ sang… » Chuột ả chết vì mắc nghẹn, chuột chàng không mấy quan tâm : « Gã đã khỏi ốm. Không có đàn bà thì chừng như gã khỏe khoắn lắm lắm. Một mình đánh cả hai cái vòng, nghe rộn ràng, cũng vui… ». Truyện đăng báo Tiểu Thuyết thứ bảy, 1941. Nhân cái Tết năm Tý này, đọc lại, ngoài niềm thích thú, ta còn tìm được đôi ba chìa khóa đưa vào triết lý Tô Hoài, hiểu thêm non 200 trước tác của anh, về sau. Trong Lại Chuyện Chuột đã dẫn, Tô Hoài có nhắc đến truyện dân gian Trinh Thử ; chắc là anh đã nghe truyển khẩu và không kiểm soát văn bản nên đã kể… ngược, nhầm nhân vật chuột chồng ra chuột vợ. Trinh Thử, con chuột trinh tiết là một truyện nôm bằng thơ, ra đời cuối thế kỷ 19. Vì các bản in xưa kia, ngoài bìa ghi tác giả là «Trần triều xử sĩ Hồ huyện Qui tiên sinh soạn » nên độc giả tưởng là tác phẩm thời Trần Hồ. Ngày nay, giới biên khảo tìm ra nguồn gốc là truyện văn xuôi Trung Quốc xuất hiện nửa sau thế kỷ XIX, tên là Đông thành trinh thử truyện, chuyện con chuột trinh tiết thành phía đông. Bản in sớm nhất hiện nay là 1875, có người cho là của Nguyễn hàm Nghi, quê Quảng Bình. Tác phẩm gồm 850 câu lục bát, kể chuyện con chuột Bạch góa bụa đi kiếm mồi nuôi con ; một hôm tránh chó, lỡ cơ sa vào ổ khác. Gặp lúc chuột Cái đi vắng, chuột Đực thừa cơ tán tỉnh, chuột Bạch một mực từ chối ; chuột Cái về, bắt gặp, nghi ngờ và ghen tuông. Cuối cùng là đả thông và hòa giải. Chuyện răn đời, đề cao tiết hạnh, cảnh cáo thói trăng hoa và tính ghen tuông không cơ sở. Nhưng đặc sắc của Trinh Thử là đã đưa lời ăn tiếng nói dân gian vào tác phẩm, đôi khi bất ngờ. Ví dụ thành ngữ « râu quặp » chỉ người sợ vợ, qua lời chuột Đực : Ta đây dễ nạt được nào Chẳng như kẻ quặp râu vào rẻ roi. Thành ngữ « no cơm rửng mỡ » tưởng là đã hiện thực, Trinh Thử lại còn táo tợn hơn : « no cơm thì rửng hồng mao ». Một câu nói đùa vui, không ngờ xuất hiện trong tác phẩm văn học : Ruồi kia một phút bay qua Biết là đực cái, lọ là sự ai. Đây là lời chuột Cái trách chồng, rất thực tế và dân dã : Chiếu chăn nào có hững hờ Mà như voi đói thì vơ dong dài Quen mùi bận khác ăn chơi Có ngày cũng được như ai ghẻ tàu. Ghẻ tàu là tên nôm na của bệnh dương mai, da liễu.
Truyện Kiều lắm lầu xanh, từ Tú Bà sang đến Bạc Bà dập dìu lắm kẻ vào ra, mà không nghe những Thúc Sinh, Từ Hải bệnh hoạn gì. Trinh Thử thật sự là một truyện dân gian. * Trên đây là những con chuột tượng trưng, tô điểm cho văn chương. Không phải là loài chuột thực tế, phá hoại mùa màng và đồ đạc trong nhà. Chưa kể phương Tây còn cho rằng chuột truyền nhiễm nạn dịch. Trong tiếng Pháp, từ thông dụng để nói hỏng việc là rater, nguồn gốc là từ rat, loài chuột đồng, chuột cống. Vì nạn phá hoại mùa màng, từ thời Kinh Thi do Khổng Tử san định, đã có ba bài Thạc thử, Chuột lớn : chuột lớn chuột lớn…, đừng ăn nếp ta… Chớ ních gạo mạch… đừng cắn mạ ta… Ngoài nghĩa đen, ở đây loài chuột còn ám chỉ tham quan, ô lại. Cùng nghĩa ấy trong thơ Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585, có bài Tăng thử, Ghét chuột, dữ dội, với câu thơ cô đúc : thành xã ỷ vi gian. Con chuột, không những tàn phá đồng áng, mà còn ẩn nấp, dựa vào nơi tường thành, đàn xã (bàn thờ xã tắc) để làm điều gian xảo. Trích đoạn bản dịch của Ngô Lập Chi : Chuột lớn kia bất nhân Gậm khoét thật thâm độc Đồng ruộng trơ lúa khô Kho đụn hết gạo thóc Nông phụ cùng nông phu, Bụng đói miệng gào khóc Mệnh người dám coi thường Chuột mi sao tàn khốc ? Ỷ thành xã làm càn Thần, nhân đều hằn học. Rõ ràng là Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nhắm vào chuột-súc vật. Thơ Trạng Trình như là có tính cách sấm ký.
 Gần ta hơn Nguyễn đình Chiểu, 1822-1888, có bài Thảo thử hịch, Hịch đánh chuột, hiện thực, chân xác và quyết liệt : Gọi danh hiệu : chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống, anh em dòng họ nhiều tên, tra quán chỉ : ở nhà, ở ruộng, ở lạch, ở ngòi, bầu bạn non sông lắm lối… Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của người thầm kín biết bao nhiêu, vắn dài râu mọc hai chia, vắng mặt chủ hung hăng đà lắm lúc… (…) Sâu hiểm bấy tấm lòng nghiệt thử, cục cứt ra cũng nhọn hai đầu… (…) Ngàn dòng nước khôn bề rửa sạch tội đa dâm … Bị kết án đa dâm vì… mắn đẻ. Trong bài, có câu nằm ngửa cắn đuôi tha trứng… nhắc tới thơ Trinh Thử : cắn đuôi tha trứng gần xa…. Con chuột muốn tha quả trứng, phải nằm ngửa, ôm trứng trên bụng, đợi một con chuột khác ngậm đuôi kéo đi. Tranh Trung quốc có minh họa cảnh này : Loài chuột, do đó, được tiếng tinh khôn, có tài « ngủ kỹ » gồm năm cái khéo, theo sách Tuân Tử : bay, leo, bơi, đào, chạy. Lại có sách nói : thiên khai ư tý : trời mở ở cung Tý, vì theo lịch Trung Quốc, thiên can và địa chi khởi đầu ở cung Giáp Tý. Mỗi chu kỳ 12 hay 60 năm đều vậy. Chuyện nọ bù chuyện kia, hình ảnh chuột, ngay ở phương Tây cũng không phải luôn luôn và hoàn toàn xấu. Bằng cớ là con chuột Mickey trong tranh và phim hoạt họa Walt Disney, có lẽ là chú chuột lừng danh nhất thế giới hiện đại. Hãng phim này trong năm 2007 đã sản xuất một phim hoạt họa lừng danh, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, « Ratatouille », một cách chơi chữ, lấy tên một món ăn bình dân, tương đương với món bung của ta, và bắt đầu bằng tiếng Rat (chuột). Phim kể chuyện con chuột Rémy chạy lạc vào một tiệm ăn lớn ở Paris, lừng danh là nơi có nhiều tiệm ăn ngon. Tình thế đẩy đưa, chú chuột Rémy trở thành một đầu bếp xuất sắc, được làng chuột Paris bảo vệ và ủng hộ. Phim có tính cách ngụ ngôn, vui nhộn, truyền cảm, nhạc hay. Ý nhị, tinh tế. Ngày nay, trong máy điện toán, con chuột là bộ phận thân thiết nhất với bàn tay, có lẽ dịch từ tiếng Anh Mouse, tiếng Pháp Souris, là chuột nhắt, chứ không phải là chuột cống, Rat, mang âm vang xấu hơn. Trong ca dao, dường như cũng là chuột nhắt : Con mèo mày trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà? Chú chuột đi chợ đường xa Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo. Tranh Đám cưới chuột, có tiêu đề Nghênh hôn, vẫn có người gọi là Chuột vinh quy, trong nghệ thuật dân gian, có lẽ nguyên ủy là hai bức tranh kết hợp, bổ sung cho nhau, không rõ là chuột gì; có lẽ là chuột nhắt mới phải đấm mõm mèo, dù là trên đường vinh quy. Dung hòa những nét đa dạng, có khi tương phản về loài chuột, Apollinaire, 1880-1919, có bài thơ La Souris, Con chuột, trong bộ Le Bestaire, Tranh cầm thú, gồm 30 bài được Raoul Dufy minh họa, 1911. Bài thơ ngắn, đơn giản, hiện thực và thi vị: Belles journées, souris du temps Vous rongez peu à peu ma vie. Dieu ! je vais avoir vingt huit ans, Et mal vécus, à mon envie. Tạm dịch : Bao nhiêu ngày đẹp, chuột thời gian Gậm nhấm đời ta đã mẻ mòn. Trời ơi ! mình sắp lên hăm tám Sống vất vơ và mộng dở dang. Nhạc sĩ Nguyễn Tư Triệt đã phỏng dịch và phổ nhạc : Năm tươi tháng đẹp, ôi lũ chuột thời gian, Đời ta từng chút gậm mòn…
 Bài hát Chuột thời gian được in trong tập nhạc Khúc hát tiều phu, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2003 và ghi vào đĩa hát CD. Đây là cuộc giao duyên tươi đẹp của nghệ thuật, mà con chuột đã giăng đầu tơ mối nhợ. * Chuột gây tai hại, thì ai cũng biết. Nhưng tâm thức con người và qua văn thơ, nhất là ngôn ngữ dân gian, chuột là một hình ảnh thân thuộc và thân ái. Có lẽ vì vậy mà chuột đứng đầu trong hàng can chi, và nhiều người tin năm Tý là năm may mắn. Ở đời, không có gì may mắn bằng Chuột sa chĩnh gạo. Đón mừng xuân năm Tý, mình cứ chúc nhau dân dã như thế.
 Đặng Tiến
 Orléans
Tranh của HS Nguyễn Gia Trí (1960)

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Thơ Nguyễn Vũ Sinh: BẠC ĐẦY CỎ LAU


Vuốt tay lên sợi tóc gầy
Chưa soi đã thấy bạc đầy cỏ lau
Sờ lên má hóp da nhàu
Sầu dâng rưng rức nhớ màu hoa niên.
 "Hóc Bà Tó"
-14h30-25-12-2019
 Nguyễn Vũ Sinh