Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2023

Hữu Dũng: NHỚ MÍT TRỘN QUÊ NHÀ

 


Mấy hôm nay trời oi bức, ngồi lai rai cùng mấy ông bạn già ở gốc mít nhà anh Bè nghe tu hú lảnh lót vọng về khiến lòng tôi nhung nhớ đến thèm thuồn món mít trộn quê nhà.

Hồi đó, vườn nhà thường trồng ba giống mít: Mit ướt, mít nghệ và mít ráo. Trong đó mít ráo được người làng yêu chuộng hơn cả. Bởi công năng của nó ngoài việc cho gỗ để làm hàng mộc, quả mít ráo được chế biến nhiều món ăn. Nhớ lại những năm thời hoa lửa, ruộng đồng bị bom cày đạn xới, người làng thiếu đói, nhiều gia đình nhờ mít để ấm lòng. Vả lại, thổ nhưỡng ở quê tội phù hợp với giống cây này. Đến thời kỳ cho quả, có cây có đến trên trăm trái. Chúng mọc thành chùm, lúc ngúc khác nào như đàn lợn con vây quanh bầu vú mẹ.


Mít chín múi vàng ươm, bọng nước thơm lừng. Từ quả mít được đôi bàn tay khéo léo của các chị, các mẹ chế biến nhiều món ăn ngon miệng. Chẳng hạn, qủa mít già bóc xơ đem hông ăn vừa bùi vừa ngòn ngọt. Hột mít luộc chín vừa bùi vừa béo. Mít non dùng để nấu canh, đặc biệt kho với cá chuồn muối sươi. Ở đây mình nói thực lòng nghe: Món dân dã này thì cơm mấy cũng không vừa, khó món ăn nào sánh kịp. Vì vây mà nó được đi vào thi ca đối với người dân xứ Quảng. “Ai về nhắn với bạn nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

Trong các món ăn chế biến từ quả mít thì người làng khoái khẩu hơn cả vẫn là mít trộn. Nguyên liệu để làm món ăn dân dã này cũng thật giản đơn. Trước hết chọn quả mít non không bi sâu bệnh mập mạp, thịt chắc; rồi dùng dao gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, bỏ cùi bên trong, cắt thành từng miếng bằng nắm tay người lớn. Sau đó đem luộc. Khi mít vừa chín tới, thì vớt ra rổ để nguội, rồi dùng dao xắt nhỏ. Phía bếp đặt chảo khử dầu mà phải là dầu phụng chính hiệu Điện Thắng mới đúng đô. Dầu vừa chín thì nhắc chảo khỏi bếp để nguội, tiếp đến thả mít vào chảo trộn đều cùng thịt heo ba chỉ, muối, bột ngọt, đường, tiêu, chanh, ớt. Nên nhớ món mít trộn mà thiếu rau răm, rau húng và đậu phụng rang thì hương vị của nó xem như mất đi một nửa. Đâu vào đấy dùng muỗng xúc ra đĩa. Để tô điểm đĩa mít trộn thêm phần đẹp mắt, hấp dẫn các mẹ, các chị dùng ớt đỏ cắt tỉa hình cánh hoa bày lên trên.
Ăn mít trộn là phải ăn nhứ thế này mới ngon: tuyệt đối không gắp bằng đủa, bằng thìa mà phải dùng tay xúc bằng bánh tráng nuớng, nhưng là bánh tráng Phú Chiêm, Điện Phương mới hợp gu. Thưởng thức mít trộn nên ăn từ từ, thong thả mới cảm nhận hết hương vị độc đáo của nó, bùi bùi, beo béo của mít non. Chua chua, cay cay ngòn ngọt của đường, của ớt, của chanh. Giòn dai của bánh tráng, đậu phụng, thịt heo ba chỉ. Mùi thơm dịu ngọt của húng, răm ... nếu có thêm chén đế phụ họa thì càng hấp dẫn, ăn hoài không biết ớn. Do vậy mà món ẩm thực này người làng dủng để thết đãi bằng hữu, người thân đi xa về thăm quê hay các thành viên gia đình đoàn tụ.

Sau ngày giải phóng, hướng ứng chủ trương xóa vườn tạp, phát triển mô hình kinh tế vườn để thoát nghèo, cho nên vườn nhà ở quê tôi thay dần các loại cây truyền thống. Họ nhà mít cũng chịu chung số phận lần lượt suy tàn. Thay vào đó giống cây mới có tiềm năng kinh tế. Theo đó món mít trộn thưa dần trong mỗi gia đình
Bản thân tôi cũng có thời ngược xuôi được may mắn thưởng thức nhiều món ăn đặc sản các miền, nhưng đâu cũng không bằng mịt trộn quê nghèo. Đến bây giờ cứ mỗi độ giêng hai, nghe tiếng tu hú, thấy cá chuồn xanh ngời từ biển Địện Dương về khu phố chợ làng là lòng tôi mường tượng hương vị mít trộn như đang lẫn quẫn đâu đây, khiến nỗi thèm thuồng trong tôi trổi dậy và dạt dào niềm cảm xúc lâng lâng khó tả.

H.D

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2023

Hòa Văn: CÒN CHÚT...



Còn chút vui đem chia với nhé

Bạn bè ơi thương nhớ mấy người

Câu chúc cũ đượm màu gần gũi

Mở cửa ra... chung đụng cùng đời!


Còn mấy thứ tưởng chừng hư ảo

Ồ mà không thực cả đấy mà!

Em vội vã mang hồn ngây dại

Ôm hôn nhau trên đỉnh dương tà


Bữa gặp ấy vui hay buồn vậy?

Sông đôi bờ dồn dập sóng xô

Bến cũ in bóng hình ta đẹp

Thương cỏ hoa còn biết xuyến xao!.


Hòa Văn

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Nhà văn Annie Ernaux đã vinh dự được trao giải Nobel Văn học 2022 

 



Nhà văn Annie Ernaux đã vinh dự được trao giải Nobel Văn học 2022 tác giả của hơn 20 cuốn sách và cũng là người phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt giải Nobel văn học nổi tiếng thế giới.
Giải Nobel cho những thành tựu về khoa học, văn học và hòa bình được thành lập theo ý muốn của nhà hóa học và kỹ sư người Thụy Điển Alfred Nobel và bắt đầu được trao từ năm 1901.

Trong thông báo mới nhất, nhà văn Pháp Annie Ernaux đã được trao giải Nobel văn học năm 2022 cho "lòng dũng cảm và sự nhạy bén" trong các cuốn sách tự truyện chủ yếu của bà. Tác giả 82 tuổi là người phụ nữ Pháp đầu tiên đoạt giải thưởng văn học nổi tiếng thế giới.


Thông báo từ BTC của Giải Nobel về người nhận giải Nobel văn học năm 2022. (Ảnh: Nobel Prize)
Công bố người chiến thắng văn học năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển cho biết Annie Ernaux "nhất quán và từ các góc độ khác nhau, nhìn nhận cuộc sống qua sự chênh lệch mạnh mẽ về giới tính, ngôn ngữ và giai cấp" và rằng "con đường đến với quyền tác giả rất dài và gian nan".

Anders Olsson, Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, mô tả Annie Ernaux là "một nhà văn cực kỳ trung thực, người không ngại đương đầu với những sự thật khó".

Ông nói thêm: "Cô ấy viết về những điều mà không ai khác viết về, ví dụ như việc cô ấy phá thai, sự ghen tuông của cô ấy, trải nghiệm của cô ấy khi bị người yêu bỏ rơi... Ý tôi là, những trải nghiệm thực sự khó khăn".

Chia sẻ khi được nhận giải thưởng danh giá, Annie Ernaux nói với đài truyền hình Thụy Điển SVT: "Tôi rất ngạc nhiên... Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng nó sẽ xuất hiện trên nền của tôi với tư cách là một nhà văn", "Đó là một trách nhiệm lớn lao...".

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã gửi lời chúc của mình bằng một chia sẻ trên trang Twitter. Ông viết: "Annie Ernaux đã viết cuốn tiểu thuyết về ký ức tập thể và sâu sắc của đất nước chúng ta trong 50 năm. Tiếng nói của bà là quyền tự do của phụ nữ và những điều bị lãng quên trong thế kỷ".

Với vinh dự vừa nhận được, Annie Ernaux trở thành người phụ nữ thứ 17 trong số 119 người đoạt giải Nobel văn học, giành được giải thưởng tiền mặt trị giá 10 triệu kronor Thụy Điển (hơn 800.000 bảng Anh). Với nước Pháp thì Annie Ernaux là người đầu tiên nhận được giải thưởng danh giá này.

Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, Anders Olsson, mô tả Annie Ernaux là "một nhà văn cực kỳ trung thực, người không ngại đương đầu với những sự thật khó".


Tổng thống Pháp Emmanuel Macron là một trong những người đã gửi lời chúc mừng tới nhà văn Annie Ernaux khi bà được công bố là người được trao giải Nobel Văn học 2022.
"Cô ấy viết về những điều mà không ai khác viết về, ví dụ như việc cô ấy phá thai, sự ghen tuông của cô ấy, trải nghiệm của cô ấy khi bị người yêu bỏ rơi... Ý tôi là, những trải nghiệm thực sự khó khăn" - Chủ tịch ủy ban văn học Nobel, Anders Olsson, nói.


Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2022

Tưởng người Gò Nổi làm thơ: Nguyễn Giúp


 TẠM BIỆT THI SĨ NGUYỄN GIÚP

 (1961 - 31/7/2022) có tư liệu ghi sinh năm 1959

Đất Phù Sa trôi theo sông

Còn lưu chút bụi tươi hồng thế thôi!

HÒA VĂN 

Tưởng Người Phù Kỳ - Gò Nổi!

31/7/22

Nguyễn Giúp sinh quán Điện Phong, Phù Kỳ - Gò Nổi, Điện Bàn, Quảng Nam. 

Sống và dạy học tại Đại Lộc, Quảng Nam.


TÔI & SÔNG


Ngược sông Thu

Chào những ban mai

Chào những chiều tà

Có tôi quay về chốn cũ

Bãi bồi quê cha quê mẹ

Xanh non lúa non dâu

Mỏng mảnh nỗi niềm sông từng hồi thức

Khuôn mặt người quen chảy dài mùa màng

Đêm quê họ mỏi lòng nguồn cội

Tre cong đời tre gửi vào đất đai khúc chiết

Lục tung nỗi nhớ nhà lại gặp sắn khoai lận đận

Nửa đời không giấc mơ buổi trăng

Làm sao như con bê vàng ngây ngô bú mẹ

Làm sao bẻ thân lau mà cờ

Cho tôi trắng cơn khát

Cho tôi đói

Cho tôi quay về không một mảnh

Cho tôi ngấm tôi mà lột cả

Sông ơi! Cắm cây sào xuống đáy

Cát sỏi xì xào

Cầm vào đây thật chặt cho tôi buộc con thuyền người dưng

Bên kia đồng dế non ngậm gió

Bờ kêu một thớ trăng vuông

Đất ơi! Nước ơi! Mái đình rêu

Người ơi! Câu hát xưa nương dâu

Tình yêu mở ra đất đai cày lật

Ta từng ấy tha phương đành lỗi quê nhà

Chiêm Sơn chiều quay khung tơ

Xuân thì trổ ngực em có về

Ra đồng mần… quản chi áo rách

Quay xuống mà cạn sông

Chắp hai tay lên ngực lạy với lòng Quảng Nam

U u trăm năm ngàn năm cỏ dựng

Anh hùng cọ núi xương khô

Mới hay da thịt mẹ cha

Mới hay Kim Tích vào quê kiểng

Một nấm mồ vôi phủ cỏ voi

Một ngụm nước đầy nhổ sào

Thả trôi…

Tôi & sông thành biển.


NGUYỄN GIÚP


TÔI & ĐẤT


Một lát cuốc chôn nhau thai vào đất

Ký thác ngày mẹ tôi đẻ ra tôi

Mặt trời màu đỏ tôi chưa nhìn thấy nhưng chắc chắn nó rất lớn và bao trùm

Ngập ngụa nắng tôi như cây cầu dang đôi chân hạn hán

Những bước đi khác gì nhau mà số phận

Tôi bội bạc mép vườn nhà cú kêu

Mặc cát sỏi níu cây sào cắm phặp

Tôi vẫy tay thiên di


Đứt ruột vườn nhà phân heo phân bò

Buổi giêng hai chưa ngậm

Lúa chưa kịp mẩy đòng bọc thai

Chỉ rét mỏng tràn khe bật thức hướng nhìn cỏ dậy

Tôi từ đây đất khách quê người!


Tạ lỗi sinh thành cho con đổi giọng

Chối bỏ lưng trâu và bọc tất mười đầu ngón chân mang khai

Tôi dọc ngang đất nước mình thấy đâu cũng đẹp như chiều

Miệng lưỡi giàu lên hơn chín tháng mười ngày thai nghén

Tôi lột tôi xưa bỏ chợ

Tôi sinh tôi lẫn tránh tôi suốt đời bạt xứ


Những tối buồn soi gương bắt gặp thằng giang hồ đầu hói

Tôi nhận ra tôi xưa nhiều nét giống

Ảnh ảo trong kia cười hô hố nghe rất quen mà không quen

Hắn đã già hắn phải chết

Huyệt mộ mai sau hắn có về nằm cạnh

Dự cảm nơi chôn nhau

Một lát cuốc đã buồn như mọi chiều râm kính

Đất cứ âm âm lần sinh hạ

Cha tôi nín thở… cười.


NGUYỄN GIÚP

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Hòa Văn: PHẠM PHÚ THỨ - XE TRÂU XE ĐẠP NƯỚC Ở LÀNG ĐÔNG BÀN XƯA



Như nhiều làng quê xưa ở Điện Bàn (Quảng Nam) đất đai tiếng là màu mỡ nhưng dân làng Đông Bàn quanh năm cơ hàn do chỉ sản xuất lúa gieo, trồng khoai trồng sắn... tất cả được mất trông ở trời. Gặp năm hạn hán mùa màng thất bát, năm thuận cỏ dại mọc nhiều hơn lúa nên công chăm sóc nhổ cỏ rất cực nhọc, năng suất trúng lắm cũng chỉ đạt trên 10 ang một sào.


Tình cảnh ấy kéo dài cho đến khi cụ Phạm Phú Thứ - Tiến sĩ, người con của làng, đưa mô hình xe gió ở Ai Cập về quê làm thành xe đạp nước, phục vụ cấy lúa nước, cuộc sống dân làng mới khấm khá.


Đó là vào tháng 6 năm 1863, nhân chuyến đi Pháp và Tây Ban Nha theo dụ vua Tự Đức nhằm điều đình chuộc lại 3 tỉnh ở Nam Kỳ. Hành trình dài gần một năm từ 21. 6. 1863 đến 28. 3. 1864, cụ Phạm Phú Thứ đã học kỹ thuật làm xe "đạp nước" của dân bản xứ ở Ai Cập và khi về nước truyền lại cho dân làng Đông Bàn.


Xe đạp nước được chế tác từ các vật liệu sẵn có tại địa phương. Một bánh vành bằng tre đường kính 10- 12 mét, các thanh tre kết nối quanh một trục ngang gỗ lim hoặc gỗ trầm thị, trên vành tre lắp đặt ống tre một đầu kín cách đều nhau nghiêng theo một chiều 20 độ, các ống tre nầy dùng để múc nước từ dưới ao (hồ), đìa đưa lên mương máng. Hệ thống xe đạp nước đặt cố định trên bờ ao, đìa làm sao cho vành tre quay theo trục ngang khi có lực đạp đều lên thanh tre ngang trên vành, một xe đạp nước và một ao, đìa nước chiếm diện tích khoảng 1 sào đất, thường đặt ở trung tâm cánh đồng để tiện cho việc tưới nước. Trung bình một hồ xe cung cấp đủ nước tưới cho 2 mẫu (1 ha) ruộng.


Sau khi có xe đạp nước hơn 100 mẫu ruộng làng Đông Bàn xưa trở thành đồng lúa nước, năng suất tuy chưa cao (khoảng 25 ang/ sào), nhưng hồi đó đã là tiến bộ đáng kể. Để tính thời gian phiên nước bà con nông dân dùng trục chỉ quấnồìa trục ống tre cắm cố định nối với trục của xe đạp nước. Một chỉ nước (tức là hết 1 trục chỉ) bằng 120 vòng quay (khoảng 1 giờ) thì nước đủ tưới khoảng 1 sào lúa với mực nước ở ruộng trên dưới 1 tấc.

Sau này dân làng Đông Bàn cải tiến xe đạp nước thành xe trâu. Xe trâu xử dụng các thiết bị như xe đạp nước, có thêm 2 bánh xe răng cũng làm bằng gỗ mít ròng đường kính 0,5 mét và một trục gỗ lim (hoặc gỗ trầm thị) dài 7- 8 mét, đường kính 0,25 mét. Hệ thống nầy cài vào cổ trâu (ách trâu) khi trâu đi vòng quanh trên một thửa đất bên đìa (ao); lực kéo của trâu làm cho vành bánh xe nước quay, đưa nước từ đìa lên mương máng tưới ruộng. Năng suất xe trâu nhanh gấp 3 lần đạp nước. Một xe trâu tưới đủ nước cho hơn 5 mẫu ruộng. Cho đến năm 1965, ở làng Đông Bàn có 17 xe trâu và 5 xe đạp nước với đầy đủ hệ thống mương nội đồng.

Từ xe đạp nước, xe trâu ở làng Đông Bàn, về sau nhiều nơi trong ngoài tỉnh Quảng Nam làm theo và trở thành công cụ thuỷ lợi phổ biến phục vụ sản xuất nông nghiệp.


Ngày nay, trên cánh đồng làng Đông Bàn xưa (thôn Nam Hà 1, Nam Hà 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, xã Điện Trung, Điện Bàn, Quảng Nam) còn di tích nhiều ao (hồ), đìa, mang tên của chủ các xe đạp nước, xe trâu như Đìa xe trâu (còn gọi là hồ xe) các ông Hương Hẳn, Thủ Cầm, Thủ Thị, Xã Thành, Hương Triệu, Trùm Cũ, Tư Quán, Cửu Chương, Cửu Thám...

Nhắc lại một công cụ hữu ích: xe đạp nước, xe trâu một thời gắn bó với bà con nông dân, càng nhớ về cụ Phạm Phú Thứ- người con của quê hương Điện Bàn, Quảng Nam với tư tưởng canh tân đất nước nổi tiếng.

Hình ảnh xe đạp nước, xe trâu nếu được tôn tạo đặt ở một vị trí gần khuôn viên lăng mộ cụ Phạm Phú Thứ (ở thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung) chắc sẽ góp phần ý vị cho du khách đến đây trước thắp nén hương kính tưởng nhớ cụ, sau thưởng lãm công cụ thuỷ lợi nổi tiếng một thời.


Hòa Văn



Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

Đặng Tiến: THƠ LÀ GÌ?

 







Nhà phê bình Đặng Tiến

Fb Tien Dang

 

 Dưới tiêu đề tổng quát này, chúng tôi mở đầu một loạt bài biên khảo về thơ, trên bình diện lý thuyết.

 Đề tài không phải là mới mẻ ; từ thời Khổng Tử san định Kinh Thi, từ thời Aristote luận về Thi pháp đến nay, hơn hai mươi thế kỷ đã nghiêng mình xuống ngôn ngữ  thi ca. Tuy nhiên, cho đến nay, những bình luận về thơ chỉ dừng lại ở mức cảm thụ, nghĩa là cái phần trực giác bén nhạy giúp ta linh cảm chất thơ ; thậm chí có người đưa ra những quan niệm thần bí về thơ, như nhóm Xuân Thu Nhã Tập trước đây, và một số tác giả khác hiện nay tại miền Nam.

 Giới văn học Tây phương cũng đã lúng túng rất lâu trong việc định nghĩa thi ca. Năm 1925 trước năm Viện Hàn Lâm  họp  đại hội đồng tại Paris, Henri Bremond, trong bài diễn thuyết về « thơ thuần túy » đã đưa ra một quan niệm huyền nhiệm về thơ, làm lung lạc cả thế giới khảo cứu của Pháp. Nhưng từ ấy đến nay, nếu các lý thuyết về tiểu thuyết, kịch, … không tiến bộ bao nhiêu thì kiến thức về thơ của Tây phương đã phát triển rất nhanh ; nhất là từ hai mươi năm nay, bộ môn « thi pháp » (poétique) trở nên thời thượng, nhờ những lý thuyết thẩm mỹ nói chung, nhờ sự đóng góp của các triết gia như Heidegger, Bachelard, Sartre, … và nhất là nhờ những tiến bộ vượt bực của ngành ngôn ngữ học, từ de Saussure đến Jakobson và bộ môn nhân chủng học từ Sapir đến Lévi-Strauss. Năm 1962, Jakobson và Lévi-Strauss, mỗi người đã mang những kiến thức nghiêm túc của mình để cùng giải thích bài thơ Mèo (Les Chats) của Baudelaire, có sự đóng góp của nhà ngữ học Benveniste. Bài giải thích này là bước tiến quyết định trong việc phá vỡ huyền thoại về thơ.

 Tại Việt Nam 1973, có lẽ vì hoàn cảnh, nên chưa có những biên khảo thật nhất quán và khoa học về thơ, tại miền Nam cũng như  miền Bắc. Đây là việc cần phải làm vì ai cũng biết người Việt Nam yêu thơ và ngôn ngữ Việt Nam giàu thi tính. Vì vậy mà chúng tôi không ngại kiến thức hẹp hòi, đưa ra một số suy nghĩ trong loạt bài sắp tới : thơ và văn xuôi khác nhau ra sao, tương quan giữa ý thơ và lời thơ, đặc tính của lời thơ, khả năng của khoa học áp dụng cho việc hiểu thơ… Để thoát ly khỏi quỹ đạo kiến thức tây phương, chúng tôi sẽ trình bày quan niệm của tổ tiên ta về thơ, thi tính của ca dao, và sẽ phân tích một vài thi phẩm cổ kim của ta ; một lý thuyết về thơ chỉ có giá trị nếu ta có thể áp dụng để phân tích rất nhiều tác phẩm cụ thể, thuộc nhiều hình thức và thể loại khác nhau, trong nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, như Jakobson đã đề xuất và thực hành.

 Việc này, chúng tôi không viết thành sách, mặc dù có lời yêu cầu của một vài nhà xuất bản ; tôi chỉ muốn trình bày trên báo để góp ý với nhiều giới độc giả, dù biết rằng khó trình bày được toàn bộ lý luận qua dăm mười bài viết rời rạc.

 Viết loạt bài này, chúng tôi đứng trước bốn khó khăn : thứ nhất, sự khảo cứu chỉ mới ở bước đầu ; thứ nhì, thiếu tài liệu về thơ Việt Nam, nhất là về lý luận Việt Nam xưa về thơ ; thứ ba, muốn trình bày một đề tài chuyên môn bằng ngôn ngữ bình dị ; thứ tư, viết về thơ mà không văn vẻ thì đọc chán, mà văn vẻ thì giảm bớt tính khoa học.

         Bạn đọc sẽ nhận thấy những khuyết điểm do các khó khăn nói trên tạo ra.

 * * 

 Trong bài đầu tiên này, chúng tôi  nêu lên nguyên lý cơ bản : Thơ khác với ngôn ngữ thường ra sao ? Vấn đề này nhà văn, giáo sư Nguyễn văn Trung, cách đây khá lâu, đã trình bày mạch lạc nay tôi chỉ nói lại vắn tắt và cụ thể. Ngôn ngữ nói chung, là một trong nhiều hệ thống ký hiệu, được loài ngừơi dùng làm phương tiện để truyền đạt tin tức, mệnh lệnh, tư tưởng, tình cảm. Mỗi từ ngữ không có giá trị tự tại, mà chỉ là công cụ để chỉ một đối tượng : con mèo, con chó chẳng hạn. Khi từ ngữ vượt khỏi công dụng thông tin ấy, để biểu hiện giá trị thẩm mỹ tự tại thì, theo Jakobson, nó có chức năng thi pháp (fonction poétique). Đó là thơ.

 Nói khác đi, thơ là ngôn ngữ, vậy nó cũng truyền đạt một tình, một ý. Nhưng đặc tính không nằm trong thông điệp truyền đi, mà nằm trong vỏ âm thanh của từ ngữ được sử dụng. Ngôn ngữ thơ không chỉ là dụng cụ, mà còn là thể chất. Nó vừa là nội dung vừa là hình thức : nội dung đôi khi chính là hình thức của nó. Cho nên khi so sánh thơ với ngôn ngữ thường, ta có thể nói quá đi một chút như lời Jakobson : thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh, trong khi văn xuôi, hay lời nói thường, chỉ là những ký hiệu bày tỏ sự vật bên ngoài. Trình bày cách khác : nói, là nói cái gì, còn làm thơ, là nói để được cái thú nghe lời mình nói, như chàng Trúc ở dòng đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh « nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy.. ».

Yêu thơ là yêu  lời nói đẹp. Đẹp ở đây không nhất thiết là phải vần vè, văn vẻ.

 Từ cuối thế kỷ 19, Mallarmé đã bảo : « làm thơ với từ ngữ, chứ không phải với ý tưởng ». Nguyễn văn Trung có trình bày thêm quan niệm của Valéry, Breton, Sartre. Nhưng mãi đến vài mươi năm gần đây, các nhà khảo cứu mới chú tâm đặc biệt đến thơ như là một ngôn ngữ tự tại, như hội họa, như âm nhạc, chứ không phải chỉ là một công cụ. Thật ra, từ 1921, Jakobson đã chủ trương : « thơ chỉ là một ngôn đề nhắm vào biểu thức (un énoncé visant l’expession), có thể nói, vận hành trong quy luật nội tại ; chức năng truyền đạt, đặc biệt của ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ truyền cảm, bị giới hạn đến mức tối đa. Thơ dửng dưng với đối tượng của lời nói ». Ông còn so sánh «  nếu hội họa là cách tạo hình bằng những chất liệu của thị quan có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là cách tạo âm bằng chất liệu thuộc thính quan có giá trị tự tại, nếu vũ điệu tạo hình bằng chất liệu cử động của thân thể có giá trị tự tại, thì thơ là cách tạo hình với từ ngữ có giá trị tự tại. Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó » (la poésie est la mise en forme du mot à valeur autonome…c’est le langage dans sa fonction esthétique) [6]. Hơn mười năm sau, cũng tại Prague, ông lại định nghĩa « thơ là gì » và nói rõ « thi tính thể hiện ra sao ? – Thể hiện bằng cách : từ ngữ được cảm thụ như là từ ngữ chứ không phải chỉ là một ký hiệu tầm thường của sự vật được gọi tên, cũng không phải như một òa vỡ của tình cảm ; nó thể hiện bằng cách : những con chữ, và cú pháp, và ý nghĩa, và hình thể ngoại tại và nội tại, không phải chỉ là những ký hiệu vô vị của thực tế, trái lại những con chữ đó có trọng lượng riêng, có giá trị riêng ».

 Mãi về sau này, khi Jakobson được xem như bậc thầy của khoa ngôn  ngữ học thế giới, các  nhà biên khảo mới khai thác triệt để tư tưởng của ông, một phần cũng nhờ sự đóng góp của phong trào cấu trúc (structuralisme) với Lévi-Strauss.

 Trong một ngành khoa học khác, môn nhân chủng học, Lévi-Strauss cũng đi đến một kết luận như Jakobson : « chúng ta đều thừa nhận rằng từ ngữ là những ký hiệu, nhưng giữa chúng ta, thi sĩ là những kẻ cuối cùng còn sót lại còn biết rằng từ ngữ, xưa kia, cũng là những giá trị ».

 Từ quan niệm : thơ là một ngôn ngữ trong ngôn ngữ theo lời Valéry, các nhà khảo cứu xây dựng một nền khoa học mới, môn « thi pháp » (la poétique) với những quy luật chuyên môn, thậm chí ngày nay, có ngừời không còn xem thơ như một lãnh vực của văn chương như ta vẫn quan niệm, mà là một hệ thống ký hiệu riêng, không mấy quan hệ với văn chương : « Ngày nay, chúng ta không còn có thể đề cập đến sự kiện thi ca bằng cách sát nhập thơ vào lý thuyết tổng quát của văn chương, ví dụ xét thi phẩm như một phần của văn học nói chung ,(…) vì cấu trúc của thơ không thể nới rộng đến ý niệm về văn chương ». Ngược lại, có người xem thi ca như một bộ môn của ngành ngôn ngữ học, họ khảo sát lời thơ như khảo sát tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Mường… Chúng tôi chưa có điều kiện để phê phán hay áp dụng những kiến giải chuyên môn đó, mà chỉ dừng lại ở những nguyên lý tổng quát, để người đọc tham khảo.

                                                         ****

             Chúng ta thử so sánh một cách nôm na ngôn ngữ thường ngày (ngôn ngữ dụng cụ) với thơ. Ví dụ muốn châm điếu thuốc, tôi hỏi : « anh có diêm không ? » thì đó là một câu nói thông thường, nó không có giá trị gì ngoài việc làm dụng cụ để tôi đốt được điếu thuốc. Tôi có thể nói một cách khác : anh có lửa ? anh có hộp quẹt ? anh có bật lửa ? anh cho tôi mồi điếu thuốc… Nói sao cũng được, miễn là đạt tới kết quả. Vậy ngôn ngữ nói chung chỉ là một phương tiện ; chỉ có thi ca mới là một ngôn ngữ riêng, tự lấy mình làm mục đích. Ví dụ, cùng

một câu xin lửa, mà tôi nói :

« Cho tôi xin chút lửa

Lửa tắt.

Cho tôi xin nước mắt

Nước mắt chua »

… 

thì tôi không còn xin lửa để đốt điếu thuốc, nhen bếp cơm, mà nói để có cái thế được nói một câu đồng dao đẹp. Câu đồng dao đó tự nó là đối tượng của nó, nó không nhắm mục đích gì hết : Đứa bé lên năm chơi rồng rắn, thì xin nước mắt làm gì ?

 Cũng chú bé đó, khi bập bẹ tập nói, học những tiếng con mèo, con chó… để có dụng cụ chỉ hai loại gia súc nọ ; lớn lên chút nữa nó dùng từ chính xác hơn : con vện, con tam thể, để chỉ cùng đối tượng : dụng cụ ngôn ngữ của nó dồi dào hơn. Trước kia nó chỉ có một con dao, bây giờ nó có con dao bổ dừa để bổ dừa, con dao cau để bổ cau, nhưng ngôn ngữ vẫn là dụng cụ. Mai kia nó lớn lên sẽ gọi tình nhân là mèo, tình địch là chó, thì dụng cụ thay đổi so với sự vật, như là nó dùng dao cau để rọc thư tình nhân và dao bổ dừa để chém đầu tình địch. Hai ví dụ kể trên chứng minh hai điều : Mèo, chó là ngôn ngữ dụng cụ, trong ngôn ngữ đời thường, từ ngữ (cái biểu hiện) và đối tượng (cái được biểu hiện) là hai cái khác nhau, tạm gọi cái trước là hình thức, cái sau là nội dung. Ta có thể dùng hai từ cùng nghĩa (mèo, con tam thể) hay một từ hai nghĩa (mèo gia súc hay mèo tình nhân).

 Trong Thơ thì khác. Chú bé bắt chước mẹ, hát nghêu ngao :

Con mèo con chó có lông

Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai

        (Ca dao)

Hai chữ con mèo, con chó, và cả câu ca dao không có đối tượng. Ai chả biết cây tre có mắt, và nồi đồng (miền Trung) có quai ? Vậy nói ở đây, không phải là  để nói lên cái gì, mà để được cái thú nghe lời mình nói, với một câu mà mình cho là hay. Thế nào là hay, thì lại tùy người, tùy lúc, là chuyện khác.

 Các nhà biên khảo đã đi đến chỗ đồng thuận : Về lý thuyết, ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong đời sống hàng ngày. Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng. Về thực tế, khi đưa quan niệm này vào việc phân tích thi ca chúng ta lại phải dè dặt, vì bài thơ là một mô hình phức tạp. Cái nhìn khoa học không những cần phân tích hợp lý, mà còn cần tổng hợp nhất quán ; lối nhìn đó là cần, nhưng chưa đủ để nắm bắt câu thơ.

Nói thơ là một ngôn ngữ tự tại không có nghĩa rằng : thơ không cần có ý nghĩa. Vì một từ ngữ, một câu bao giờ cũng có nghĩa nếu nó muốn là ngôn ngữ. Không làm gì có câu nói thật sự vô nghĩa.

 Cũng không hàm ý rằng thơ không tương quan gì đến thực tế nhất là thực tại xã hội. Không thể cô lập một câu thơ, và con người với xã hội, tách nó ra khỏi đời sống. Đây là hai điểm chính yếu, ta không nên ngộ nhận.

 Những câu thơ ta cho là hay, dễ nhớ vẫn là những câu có nghĩa, có ý, có tình. Ở tây phương, đã có nhiều trường phái chủ trương thơ vô nghĩa, đều bị bế tắc. Câu thơ phải có nghĩa mới là câu nói, mới làm ta chú ý. Ta có chú ý rồi mới thấy hay, càng đọc càng thấy hay, lâu ngày nhớ lại vẫn thấy hay. Nhưng câu thơ hay đó tuy có ý nghĩa, nhưng không hay vì ý nghĩa, mà hay vì hơi nói, giọng nói. Khi câu thơ hay vì ý nghĩa thì nó có cái hay của văn xuôi (beauté prosaique), như một lời văn hoa mỹ, một lời nói khéo, ví dụ câu này của Hàn Mạc Tử:

Sao bông phượng nở trong màu huyết,

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu.

 Câu thơ này dịch ra tiếng nước ngoài không khó, vì nhiều tu từ pháp, tiếng nước nào cũng có sẵn.

Nói khác đi, tương quan lời/ý, cái biểu hiện/cái được biểu hiện, (signifiant/signififié) bị đảo lộn : trong lời nói thường và văn xuôi, lời là phương tiện của ý, “được ý phải quên lời, như được cá quên nơm” (Trang Tử). Trong thơ, ý là phương tiện của lời trên hai phương diện : trong cấu trúc, ý nâng lời, tạo tương quan cho từ ngữ ; ngoài cấu trúc ý làm môi giới giữa lời thơ và người đọc, người nghe. Câu thơ không có ý thì không có xương sống và không có độc giả, thơ không ý “như thuyền không lái, như ngựa không cương”, nhưng lái không phải là thuyền, cương chỉ là thành phần không chính yếu của ngựa. Thơ hay không phải tại ý, như ngựa thiên lý không phải nhờ vào giây cương, cho dù giây cương là cần thiết. Vì vậy mà thơ xưa từ Đông sang Tây, quay chung quanh các đề tài tuyết nguyệt phong hoa. Điều chính yếu trong thơ không phải là nói cái gì, mà là nói ra sao.

Vì trong thơ, ý là phương tiện của lời, nên người bình giảng thơ cần đặt lại chính xác quan hệ nội dung và hình thức. Nhất là khi bình giảng thơ trong nhà trường. Các thầy giáo, cô giáo từ bậc tiểu học phải biết dạy thơ. Con em lớn lên mới biết yêu thơ, xã hội mới có thơ hay. Và đời sống con người tinh tế hơn.

 Theo lối  giảng thông thường của sách giáo khoa, thì nội dung của bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến là việc đi câu cá mùa thu. Đúng không ? dụng tâm của Nguyễn Khuyến khi làm bài thơ ấy có phải là để kể chuyện đi câu ? hay ông chỉ mượn việc đi câu, mượn luôn cả cảnh ao thu, để làm một bài thơ đẹp ? Phái duy lý có thể bẻ lại : Nguyễn Khuyến làm bài thơ đó để nói lên tâm hồn kẻ sĩ ; vì tâm hồn cao đẹp nên bài thơ hay. Nghe không ổn, vì có phải thánh nhân đều là thi sĩ cả đâu . Và bao nhiêu thi sĩ Tư Mã Tương Như, Baudelaire chẳng hạn, là kẻ tầm thường, có khi còn tội lỗi. Vả lại, anh thích bài thơ đó, vì anh thích đi câu,  anh thích mùa thu, hay vì bài thơ đó hay ? Tóm lại,  nội dung của bài thơ Thu điếu là bản thể của lời thơ, hình thức của nó là ao thu, phương tiện của nó là đi câu.

Nói như thế có vẻ nghịch với lẽ thường. Nhưng chính thơ là ngôn ngữ nghịch với lẽ thường. Vầng trăng làm sao mà “sẻ làm đôi” được ? Làm sao có thể “gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao” được ? Thi sĩ là kẻ phá vỡ tương quan của ý tưởng và thay thế vào đó tương quan của từ ngữ. Sự hoán chuyển phương tiện – mục đích, vẫn thường xảy ra trong thực tế ; trở lại với thí dụ đi câu : con rô con diếc là đối tượng của bác thợ câu, nhưng là phương tiện của ông Lã Vọng, đi câu là để đi câu. Cô hái chè lúc vươn tay thì cành chè là đối tượng ; cô đứng chụp hình, tay vươn cành chè, thì cành chè là phương tiện để cô có bức hình đẹp. Cô đứng tự nhiên thì bức hình không tự nhiên, phải giả vờ vin vào cái gì đó thì bức hình mới tự nhiên. Ngôn ngữ thơ cũng vậy : nói tự nhiên, thì không ra thơ, phải nói một cách nào đó thì mới là thơ. Những câu thơ “tự nhiên thiên thành”, cũng tự nhiên một cách nào đó, trong một bối cảnh nào đó.

 Bảo rằng thơ là cách nói, thi sĩ làm thơ để làm thơ, như kẻ đi câu để đi câu, không cần cá, phải chăng là từ chối mọi quan hệ giữa thơ và thực tế xã hội ? Không phải vậy, những thi sĩ lớn cũng như những lý thuyết gia ngày nay, không còn mấy ai chủ trương hình thức vị hình thức.

Thơ có đặc tính riêng, nhưng vẫn bắt nguồn từ xã hội và phục vụ xã hội. Bắt nguồn và phục vụ bằng cách nào thì tùy hoàn cảnh cá nhân, hoàn cảnh xã hội, và tùy chế độ chính trị, xưa cũng như nay.

Thơ bắt nguồn từ thực tế vì phải sử dụng ngôn ngữ hàng ngày dù để chế biến, xáo trộn,  vì ngôn ngữ vốn là phản ánh của đời sống. Thơ lại sử dụng những tình ý của con người, thì dù muốn dù không cũng phản ánh xã hội. Những thi phẩm lớn của ta, như Kiều, Cung Oán, Chinh Phụ Ngâm, đều mang ít nhiều đặc tính của xã hội. Gần chúng ta hơn, những nhà thơ tiền chiến “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” gặp lúc kháng chiến cũng đã “đốt cháy trong lòng mình những phong cảnh cũ” như lời Nguyễn Tuân, để chiến đấu và sáng tác. Gần hơn nữa, nhà thơ say Vũ Hoàng Chương đã từng sống giữa lòng đời như  “cắm thuyền sông lạ”, năm 1963, đã đốt lên ngọn Lửa Từ Bi hùng tráng để soi sáng cho cuộc đổi thay xã hội.

Và nhìn chung thơ Hy Lạp, thơ Tàu, thơ Tây đều mang đặc tính xã hội.

 Thơ không những chỉ phản chiếu tiêu cực mà còn ảnh hưởng tích cực đến tâm hồn con người. Bỏ qua quan niệm “thi dĩ ngôn chí” và “văn dĩ tải đạo”của nhà Nho, bỏ qua luôn quan niệm thơ phải phục vụ trực tiếp quần chúng, chúng ta vẫn gặp những nhà thơ lớn ca ngợi giá trị đạo lý của nhân loại từ Khuất Nguyên qua Đỗ Phủ, cho đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến. Những tác phẩm được truyền tụng là những bài  Quy Khứ Lai Từ của Đào Tiềm, thơ lánh đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Còn thơ xu phụ quyền thế của 28 vì sao trong Tao Đàn thì không mấy ai biết tới. Trong khuôn khổ của xã hội phong kiến và tư tưởng nho giáo khe khắt, thơ vẫn không chịu gò bó trong  tam cương ngũ thường, mà vươn tới cái đạo lớn của nhân loại, ca ngợi cái hùng, cái vĩ, bênh vực kẻ yếu, tố cáo bất công. Khi nói đến tình yêu trai gái, thơ gạn lọc tình cảm, cho nên những đoạn Kinh Thi ướt át nhất vẫn ngay thẳng như lời Khổng Tử. Bản chất thơ phải “tư vô tà”, đó cũng là một đặc tính chung cho  các bộ môn văn nghệ khi vươn lên làm văn hóa, văn minh.

 Vì thế ngày nay tại các nước công nghiệp tiên tiến, thơ vẫn là một bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục, nhất là cấp tiểu học. Trẻ em học thơ để yêu tiếng nói, rồi từ đó yêu quê hương, loài người và cuộc sống.

Dân tộc Việt Nam vốn yêu thơ, thưởng thức thơ từ lúc nằm nôi, nếu thi ca đóng đúng vai trò của nó dĩ nhiên là sẽ có tác dụng rộng lớn.

 Để kết luận, xin mượn lời Jakobson : “ Thi ca, so với những giá trị xã hội khác, tuy không vượt bực, không lấn lướt, vẫn là thành tố cơ bản của ý thức hệ, luôn luôn quy về một đối tượng. Thơ giúp ta khỏi trở thành máy móc, bảo vệ chúng ta chống lại sự han rỉ đang hăm dọa những công thức về tình yêu và thù hận, về phản kháng và hòa giải, về đức tin và phủ nhận". 

Đ.T

-----

Ảnh: Tập phê bình Nói chuyện về thơ của nhà phê bình Văn học Đặng Tiến (Pháp)

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2021

Lê Đình Đại: Chùm truyện rất ngắn: NHÂN CÁCH TAN RÃ

 CHÙM TRUYỆN RẤT NGẮN "NHÂN CÁCH TAN RÃ" CỦA LÊ ĐÌNH ĐẠI




♥️MẸ


Tâm hồn con người quả là nặng hơn thể xác hàng trăm lần. Có tám ngọn gió thổi vào làm chao động ngọn đèn kia. Đó là được và mất, danh thơm và tiếng xấu, khen và chê, hạnh phúc và đau khổ.

Ngày phân khoa tôi tình nguyện học chuyên khoa tâm thần!

Có một ngọn gió từ bàn tay mở, có một người lặng lẽ, lu mờ sau những hy sinh. Mẹ tôi đó.


Tôi nhớ cứ mỗi lần báo in truyện của anh tôi, tôi đạp xe một mạch từ bệnh viện về đưa cho mẹ.

-Truyện của anh Hương đây má!


Mẹ tôi cầm tờ báo, bà lấy tay sờ lên chỗ có chữ trên trang giấy, rồi nhìn xa xa tận phương nam và mỉm cười…

Tôi nói:

-Má biết gì mà cười!

-Đừng có hàm hồ. Tao đẻ nó mà tao không biết nó viết gì sao!


Mẹ tôi không biết chữ nhiều. Bà không đọc được truyện nhưng bà biết tấm lòng của anh tôi, tấm lòng ấy có từ hồi còn ẵm ngửa.


Những ngọn gió biển đang thổi vào mái tóc hoa râm của mẹ. Buổi trưa hè…


♥️BÔNG HOA  


Tôi nhớ hoài người bệnh tâm thần tên Minh, 25 tuổi ở Nam Ô, dáng mập lùn, chắc nịch. Anh có nụ cười dễ thương không chịu được.


-Hôm mấy chiếc xe vệ sinh hút xong nhà cầu, Minh đã chạy quanh sân hái những bông hoa đẹp nhất tặng họ. Anh xuất hiện với cái mũ bao bằng giấy bọc thuốc Hero và chiếc kiếng bằng dây thép dán giấy gương màu hồng một bên mắt. Minh đứng vẫy vẫy tay mãi cho đến khi xe rời khỏi bệnh viện.


-Ngày mai đi cầu thơm phức!


Anh nói rồi cười vang lây sang người khác. Người bệnh này cười, người bệnh khác cười và mọi người cùng cười.

Có một bông hoa từ đó nở tự lòng tôi…


 


♥️PHÍA RUỘNG 

 

Bước vào phiên trực - y tá làm việc 24/24. Quản lý, tuần tra, quan sát không khác chi người lính nhưng cực nhất là lúc người bệnh trốn viện. Tìm quanh không có, lên xe đạp tản đi khắp nơi, suốt đêm. Nhờ tinh thông nghề nghiệp, điểm duyệt được người bệnh nào là chuyên trốn viện và thường đi hướng nào nên thường tìm được. Chúng tôi từng lặn lội tận Quảng Ngãi, Hà Nam Ninh…gặp người bệnh thì mừng hết lớn! Thế nhưng đã có rủi ro, nhất là khi bệnh tình chưa khỏi, ra đi trong cơn như thế thật không lường được.


Một người bệnh làm nông ở Thanh Hóa, theo đoàn đào vàng lên Giằng. Cả nhà bị sụp hầm, anh mất trí, bạn bè đưa vào bệnh viện một tuần thì anh bỏ trốn lúc trời tối. Ra đi mất khả năng định hướng, cứ nhắm phía ruộng mà đi, lỡ lội vào bùn, càng lội càng lún rồi chìm xuống nước…Tử vong như thế thật đau lòng!


♥️LÒNG CHA 


Một người bệnh nữ còn rất trẻ, rất đẹp. Vừa sinh đứa con trai đầu lòng thì phát bệnh. Gia đình cúng bái khắp nơi, rơi vào túng quẫn. Đến bệnh viện thì bệnh đã nặng.


Mỗi tuần cứ tới chủ nhật gia đình mới ra thăm.

Núi Thành – Hòa Khánh, tiền xe hết mấy chục ngàn.


Hôm nay, sau bốn tuần điều trị, người bệnh nhớ nhà da diết, mà chủ nhật lại tới rồi. Trông chờ suốt buổi sáng không thấy ai ra thăm, người bệnh lặng lẽ ra căng-tin. Ngồi chờ mãi tới chiều mà bóng người thân vẫn không thấy!


Thế là người bệnh trốn viện. Buồn quá, đi về đâu? Tại sao người thân không ra? Câu hỏi lặp đi lặp lại như một ám ảnh nặng nề. Càng nghĩ càng tủi thân. Có phải gia đình đã quá cực vì mình, thôi sống làm chi! Rồi người bệnh trốn đi biền biệt.


Cả bệnh viện đi tìm mà không thấy. Chúng tôi linh cảm một điều chẳng lành.


Hôm sau người thân mới ra, nghe tin bàng hoàng, sửng sốt. Đấm vào người thình thịch, kêu trời mà trời có thấu! Chủ nhật hết tiền đi đào mấy hàng khoai đem bán, dành dụm ra thăm, thế mà bây giờ tất cả đã lỡ làng…


Thân nhân đi tìm như điên như dại, càng khuya càng cố tìm, người chồng đạp xe lùng khắp các nẻo đường, hy vọng đêm khuya vắng vẻ dễ bắt gặp.


Thế nhưng... Tất cả đều vô vọng!


Người bệnh đã trầm mình xuống dòng sông lạnh lẽo trong cô đơn tuyệt vọng. Tất cả bỏ lại sau lưng.


Hai ngày sau, cô bác vớt lên đem về phường, mai táng ở một nghĩa trang xa thành phố. Chôn xong, chúng tôi mới biết tin. Ngay đêm đó, gia đình cùng bệnh viện tiến về nghĩa trang. Trời mưa lất phất, ai nấy lặng lẽ nhìn người thân khóc nghẹn ngào mà rơi nước mắt.


Đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi đến thành phố của người chết – Nghĩa địa Gò Cà, trong một nỗi niềm xốn xang khôn tả giữa đêm khuya thanh vắng. Một sự thanh vắng cô tịch, bùi ngùi, xót xa…


Mưa mỗi lúc càng nặng hạt, nhờ hai pha đèn rọi sáng, chúng tôi cạy nắp quan tài rồi nhẹ tay bới từng hạt mạt cưa để người thân nhìn mặt. Nhưng khó nhận ra vì sự biến dạng. Bất chợt người cha nói: “Mấy chú bới dưới chân. Em nó hồi nhỏ chạy chơi, hư một cái móng ngón út bên chân trái”.


Người cha đã nhận ra con.


Tất cả những người cha đứng bên quan tài đều khóc! 

 


♥️SỰ SỐNG


Thắng xe rít lên và Út nằm bất động…


Út sinh ra trong một gia đình nề nếp, ba anh chị đều đậu vào đại học. Còn Út, đang học rất giỏi ở lớp 11 thì dở dang vì mắc bệnh tâm thần.

Từ đó Út buồn rầu, bi quan, chán nản. Gia đình cố công chạy chữa nhưng bệnh tình Út thuyên giảm tạm thời rồi tái phát.


Gia đình đâu biết rằng càng lo cho Út bao nhiêu Út càng buồn bấy nhiêu. Thêm vào đó, thấy bạn bè anh chị ai cũng đỗ đạt, có nghề nghiệp, Út càng mặc cảm.

Út sống lặng lẽ, đôi lúc lầm lì, cô độc, biết rằng mình trở thành gánh nặng cho gia đình, thành một người ăn bám vô tích sự.


Ai cũng nhìn thấy điều đó nhưng đành bất lực. Bệnh tình của Út ngày càng diễn tiến xấu.


Riêng phần Út, bước đường cùng chỉ còn một cách là chạy trốn cuộc đời, tìm đến cái chết. Đã mấy lần Út tự sát nhưng may mắn thay gia đình đều cứu kịp…


Mãi cho đến chiều nay, cái buổi chiều nghiệt ngã nhất của đời Út, buổi chiều cuối cùng Út còn hiện diện trên cõi đời này. Út đi ra, đi vào cực kỳ căng thẳng, nhìn chằm chằm vào dòng xe qua lại dưới đôi mắt buồn u uất. Chiếc thứ nhất…thứ nhì…thứ ba…Và Út đã không kìm mình được nữa…


-Trời ơi! Út thét lên…

Khi tôi bồng Út trên tay, Út còn nói: “Bác sĩ cố cứu em sống”, rồi ngừng thở. Nước mắt tôi giàn giụa.


Chiều nay tôi đưa Út đến nơi an nghỉ cuối cùng mà nghẹn ngào hối tiếc. Ôi! Còn đâu hình bóng chàng trai khôi ngô, tuấn tú, một niềm hãnh diện lớn lao của gia đình và bè bạn.


Tôi cúi xuống hái một bông hoa dại cài lên mộ Út, một người bạn, một đứa em…


 


♥️LỊCH SỰ


Không thèm thuốc vào đây lâu ngày cũng thèm và nhiều người bệnh trở thành chuyên gia đi lượm thuốc tàn


-Ông ơi! Có thuốc cho tôi một điếu!

-Anh nớ, có thuốc không?


Đó là lời chào đầu tiên khi gặp họ.

Có khi người bệnh ré rân trong phòng đòi thuốc hoặc xúm chùm lại để xin. Ngay các y, bác sĩ chúng tôi cũng bị xin đều đều.


Người bệnh Vũ Tuấn, nhân cách đã tan rã, lầm lì phẳng lặng, suốt ngày ưa nằm phơi nắng đen thui, thế mà mỗi lần xin được điếu thuốc dù chỉ vài hơi tàn, đều cám ơn rối rít...


Điên hết cấp vẫn lịch sự!

Hỏi rằng họ không đáng yêu sao được?


Lê Đình Đại

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Hòa Văn: SAIGON OXY



 #OXYSAIGON


Nơi cần cơm

Nơi cần oxy

Ơi dịch giã lan tràn

Lòng người không yên

Mấy mươi ngày rồi

Chưa mở cửa nhà

Chưa ra mảnh hiên nhỏ

Cây mai kiểng thằng con trai hằng ngày chăm tưới tắn 

Nay xàu lá

Chỉ cần vài ca nước là sống

Nhưng...

Chưa hé cửa đã sợ

"Nó..." chui vô

Ôi! Virus Sars CoV-2

Không ai ngăn nhà cấm chợ bằng "nó"

Không bà con anh em gì

Mỗi người thu mình lại một góc nhà

Mỗi người một bát cơm

Người bới trước người bới  sau

Nhứt quyết không dọn cơm ra bàn

Đành làm vậy

Hy vọng

"Nó" trừ ra!


Thức ăn ướp lạnh

Sắp hết

Gói rau cuối cùng không luộc vội

Để cho có

Gói thịt nữa

Tội thằng cháu nội

không biết cứ đòi sữa

Nó nói quán bà Năm

Bà hay bán cho nó 

Giờ vừa kêu oxy

Nó đâu biết!


Xưa đói cơm lạt mắm

Có thể chạy qua nhà hàng xóm xin

Nay ngồi im đành chịu

"CON NGƯỜI SỢ CON NGƯỜI"

Là điều có thật

Không còn viễn tưởng hay xinema nữa rồi

Cứu trợ bằng cá bằng cơm

Bình thường quá!

Giờ thời hiện đại 4.0

Thêm một món thiết 

yếu 

Oxy

Thương  tâm quá mọi người ơi!.

H.V

-----


BC ở SG cần oxy

Bấm link này

#oxysaigon

#oxymienphi


18/8/2021